Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 11/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy.
Thẩm phán: Ông Võ Ngọc Giàu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Khải;
Ông Nguyễn Đắc Thắng;
Bà Nguyễn Thị Đấu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sanh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Võ Minh Đ, sinh ngày 15/10/1993, tại tỉnh Bạc Liêu; giới tính: nam; nơi cư trú: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; thẻ CCCD số: [...]; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 6/12; con ông Võ Thanh T và bà Nguyễn Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: ngày 30/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 13/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17/5/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2023.

2

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Lưu L, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T.

Địa chỉ: số F Ấp B, Khu phố D, phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

* Bị hại:

1. Trần Hồng D, sinh năm 1978 (chết)

* Người đại diện hợp pháp:

  • - Nguyễn Trần Nguyên L1, sinh năm 1979;
  • Địa chỉ: số D, đường T, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • - Trần Duy T1, sinh năm 2005;
  • Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Trần Duy T1, sinh năm 2005;

Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L1, anh T1: Luật sư Phạm H và Luật sư Lê Văn L2, Văn phòng L4, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: số G N, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Võ Minh N, sinh năm 1991;

Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Bị cáo Võ Minh Đ, bà Nguyễn Trần Nguyên L1, Luật sư Bùi Lưu L, Luật sư Lê Văn L2 có mặt; Luật sư Phạm H, bị hại Trần Duy T1 có đơn xin vắng mặt; ông Võ Minh N vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, Võ Minh N, sinh năm 1991, cư trú ấp A, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu điều khiển xe môtô biển số 63D1 - 219.86 chở em ruột là Võ Minh Đ trên Quốc lộ A hướng từ C về M. Khi đến quán cà phê võng của bà Nguyễn Trần Nguyên L1 tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Đ kêu N dừng xe để đi vào quán mua nước uống. Bà L1 thấy Đ đi vào, nghi ngờ Đ tìm tài sản lấy trộm nên tri hô, lúc này ông Trần Hồng D, sinh

3

năm 1978 (chồng của bà L1) từ trong nhà (quán cà phê trước nhà) chạy ra bắt giữ và dùng tay đánh nhiều cái vào mặt và người Đ, Đ liền lấy 01 con dao xếp là mặt dây nịch Đ đang mang trên người, dài 12,2cm lưỡi dài 5,1cm, rộng 1cm, mũi nhọn bằng kim loại, cán dài 7,1cm, rộng nhất 2,5cm, nhỏ nhất 1,8cm trên cán dao có hoa văn không rõ hình bằng kim loại, cầm dao bằng tay phải đứng dậy đâm liên tiếp nhiều cái vào vùng ngực của ông D. Thời điểm này, anh Trần Duy T1, sinh năm 2005 (con ruột của ông D) từ trong nhà đi ra thấy Đ đánh cha ruột nên lấy một cái nồi bằng inox có tay cầm chạy đến, bị Đ cầm dao nêu trên đâm nhiều cái trúng vào người của T1 gây thương tích, nên T1 dùng nồi inox đánh nhiều cái vào người Đ. Sau đó, Đ bị T1 cùng anh Trương Văn T2, sinh năm 1982 là dân phòng khống chế bắt giữ. Ông D được đưa đến Trung tâm Y tế huyện C cấp cứu nhưng tử vong, còn Võ Minh Đ cũng được cơ quan chức năng đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 20/7/2023 xuất viện.

Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập lúc 12 giờ 05 phút ngày 10/7/2023 ghi nhận:

Hiện trường xảy ra vụ việc là tại quán bán nước giải khát có võng không tên do Nguyễn Trần Nguyên L1, sinh năm 1979, cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang làm chủ. Hiện trường có các hướng được xác định như sau: Hướng Đông tiếp giáp cửa hàng N1; Hướng Tây tiếp giáp công ty TNHH N2; Hướng Nam tiếp giáp Quốc lộ A chạy theo hướng Đ; Hướng B là khu vực trồng cây.

Quán giải khát được chia làm 02 khu vực: khu vực quầy buôn bán, nhà ở (nền gạch, mái tôn, vách tôn) ở hướng Đông và khu vực mắc võng dù màu xanh để khách nằm, ngồi uống nước (cột gỗ, mái lá) ở hướng Tây.

Trung tâm hiện trường là tại khu vực mắc võng dùng cho khách uống nước có diện tích (30x12)m. Tại vị trí trên nền đất cát cách lề Quốc lộ A 4,7m về hướng Bắc và các vách khu vực quầy bán về hướng Tây Nam 9,7m phát hiện vùng vết màu đỏ nghi máu có diện rộng (1,3x0,8)m, sậm màu, không liên tục, dạng quệt, vũng; vết lớn nhất có kích thước (29x27)cm; vết nhỏ nhất có kích thước (5x4)cm. Trong vùng vết màu đỏ nghi máu thứ nhất có 01 cột gỗ bằng tre, trên cột tre có dính vết màu đỏ nghi máu có kích thước (70x4)cm, không liên tục, dạng quệt, màu đỏ sậm, vết lớn nhất có kích thước (10x2)cm, kéo dài từ dưới chân cột gỗ lên trên.

Cách vết màu đỏ nghi máu thứ nhất về hướng Đông Bắc 1,3m và cách lề Quốc lộ A 6,3m phát hiện có 01 kính mắt có gọng đeo màu xanh, mắt kính màu trắng.

4

Cách mắt kính này về hướng Đông Bắc 84cm trên nền đất phát hiện 01 chiếc dép trái màu đen, nhựa có kích thước (29x11x8)cm dính bùn đất. Cách chiếc dép này về hướng Đông 56cm phát hiện 01 con dao xếp dài 12,2cm lưỡi dài 5,1cm, rộng 1cm, mũi nhọn bằng kim loại, cán dài 7,1cm, rộng nhất 2,5cm, nhỏ nhất 1,8cm trên cán dao có hoa văn không rõ hình bằng kim loại. Trên lưỡi dao có dính vết màu đỏ nghi máu. Cách con dao này về hướng Đông Nam 45cm phát hiện 01 chiếc dép phải có cùng kích thước, đặc điểm như chiếc dép trái ở trên. Cách con dao về hướng bắc 20cm trên nền đất phát hiện vùng vết màu đỏ nghi máu thứ hai có diện rộng (65x27)cm, không liên tục, dạng nhỏ giọt, vết lớn nhất có kích thước (2x1,5)cm, vết nhỏ nhất kích thước (0,5x0,5)cm, màu đỏ sậm, còn mới. Cách vết màu đỏ nghi máu thứ hai về hướng T 1,8m phát hiện 01 vòng chuỗi hạt gỗ màu nâu, có đường kính 7cm nằm trên nền đất. Cạnh vòng chuỗi trên ở hướng Đông 40cm có 01 chiếc xe gắn máy hai bánh nhãn hiệu Wave RSX biển kiểm soát 63X7-9987 màu đen trắng, đầu xe quay về hướng T, kiểm tra bên trong xe không phát hiện dấu vết gì, xe ở tư thế được dựng đứng. Cách chiếc xe này về hướng Đông Bắc 2,9m trên nền đất phát hiện một nón kết màu đen xám, trên nón có chữ “B” ở phía trước và chữ “Y, N” màu xám trên nón, nón có đường kính 16cm, độ sâu 12cm, phần che của nón rộng nhất 8,5cm. Bên trong nón có 01 lưỡi lam màu trắng, có kích thước (4,3x2,1)cm, trên lưỡi lam có chữ “BIC”. Cách nón kết về hướng Nam 40cm có 01 hột quẹt gas màu xanh, kích thước (8,2x2,3x0,9)cm, cách nón về hướng T 70cm có 01 đôi dép đế màu đen, quay chéo màu xanh, có kích thước (26x10x8)cm, trên dép dính bùn đất, mũi dép quay về hướng Bắc. Cách nón kết về hướng Đông Nam 1,8m, cách khu vực buôn bán về hướng Tây 1,1m trên nền đất phát hiện có 01 nồi nấu bằng kim loại tròn, có đường kính 19,3 cm, cao 9cm, tay cầm bằng kim loại dài 28,7cm, tròn có đường kính 2,7cm, đáy nồi bị biến dạng (bị móp vào ở đáy nồi).

Tiến hành khám nghiệm hiện trường ra diện rộng ghi nhận: khu vực dùng để quầy buôn bán và nhà ở để nhiều vật dụng như chai nước ngọt, nước suối các loại và nhiều thứ khác phục vụ cho việc buôn bán, không phát hiện dấu vết gì lạ. Trên vách quán, ở hướng T, mặt ngoài có 01 camera để cách mặt đất 2,1m. Trên cột điện cách lề Quốc lộ A 4,7m và cách khu vực buôn bán, nhà ở về hướng Nam 2,9m có 01 camera gắn trên cột điện, cách mặt đất 2,1m. Trên cột gỗ trong khu vực dành cho khách nằm, ngồi uống nước cách tường phía Tây 02m có 01 camera để trên cột gỗ cách nền đất 3,5m.

Bản kết luận giám định tử thi số 231-2023/KLGĐTT-TTPY ngày 10/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T xác định: Nguyên nhân tử vong của tử

5

thi Trần Hồng D: Mất máu cấp do vết thương xuyên thấu ngực thủng buồng tâm thất trái. Gãy xương sườn số 6 bên trái; Kết quả xét nghiệm nồng độ Alcool trong máu tử thi Trần Hồng D: 11.1mg/dL.

Bản kết luận giám định số 4742/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Phân Viện khoa học hình sự Bộ C tại TP Hồ Chí Minh xác định: Dấu vết nghi máu thu ở hiện trường tại vị trí số 1, vị trí số 3 và phần lưỡi dao dạng xếp là máu người, của cùng một nam giới. Kiểu gen của nam giới này không trùng với kiểu gen của Trần Hồng D và Trần Duy T1; Trên phần cán dao dạng xếp có dính máu người, của hai nam giới. Kiểu gen của nam giới 1 trùng với kiểu gen của Trần Duy T1. Kiểu gen của nam giới còn lại trùng với kiểu gen của nam giới có dấu vết máu tại hiện trường 1, vị trí số 3 và phần lưỡi dao dạng xếp nêu trên.

Bản kết luận giám định số 5718/KL-KTHS ngày 18/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại TP Hồ Chí Minh xác định: Kiểu gen của Võ Minh Đ trùng với kiểu gen của nam giới có trong bản Kết luận giám định số 4742/KL-KTHS, đề ngày 07/8/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 301-2023/KLTTCT-TTPY Ngày 08/9/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T xác định: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Võ Minh Đ là 14% (Mười bốn phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư; Xác định vật gây thương tích: Thương tích Võ Minh Đ do vật tầy gây nên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 300-2023/KLTTCT-TTPY ngày 22/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T xác định: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Trần Duy T1 là 08% (T3 phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư; Sẹo vết thương 1/3 dưới ngoài cẳng tay phải; Vết biến đổi sắc tố da vùng nách phải; Vết biến đổi sắc tố da gối phải; Sẹo vết thương mặt trong bàn chân trái. Thương tích do vật tầy gây nên; Sẹo vết thương lưng trái ngang đốt sống D1; Sẹo vết thương lưng trái ngang đốt sống D8-D9. Thương tích do vật sắc nhọn.

6

Kết luận giám định số 1479/KL-KTHS ngày 20/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong mẫu cần giám định; Mô tả đặc điểm, nhận dạng các đối tượng (từ ảnh 1 đến ảnh 5 của bản ảnh kèm theo); Động tác của từng đối tượng thể hiện từ ảnh 6 đến ảnh 18 của bản ảnh kèm theo.

Kết luận giám định số 6459/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP Hồ Chí Minh xác định: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hội thoại trong file video có âm thanh mẫu cần giám định; Tiếng nói của người nữ (ký hiệu “Lưu” trong “BẢN DỊCH NỘI DUNG") trong file video có âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của bà Nguyễn Trần Nguyên L1 trong mẫu so sánh là cùng một người nói ra; Tiếng nói của người nam (ký hiệu “Đức” trong “BẢN DỊCH NỘI DUNG”) trong file video có âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của đối tượng Võ Minh Đ trong mẫu so sánh là cùng một người nói ra; Nội dung hội thoại trong file video có âm thanh mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản (“BẢN DỊCH NỘI DUNG” gồm 08 trang giấy A4).

(Kèm theo kết luận giám định: “BẢN DỊCH NỘI DUNG” gồm 08 trang giấy A4).

* Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

  • + 01 (một) đôi dép màu đen, nhựa, có kích thước (29x11x8)cm.
  • + 01 (một) đôi dép màu đen, quay chéo màu xanh, dép có kích thước (26x10x8)cm.
  • + 01 (một) mắt kính có gọng đeo màu xanh, mắt kính màu trắng.
  • + 01 (một) con dao xếp dài 12,2cm, lưỡi dài 5,1cm, rộng 01cm, mũi nhọn bằng kim loại, cán dài 7,1cm, rộng nhất 2,5cm, nhỏ nhất 1,8cm trên cán có hoa văn không rõ hình, bằng kim loại. Dao này được Võ Minh Đ nhận dạng và xác định dùng dao đâm D tử vong và đâm T1 gây thương tích.
  • + 01 (một) cái nón kết màu đen xám.
  • + 01 (một) lưỡi lam màu trắng, trên lưỡi lam có chữ “BIC”.
  • + 01 (một) cái nồi nấu bằng kim loại, tròn, có đường kính 19,3cm, cao 09cm, tay cầm bằng kim loại dài 28,7cm tròn có đường kính 2,7cm, đáy nồi bị biến dạng.

7

  • + 01 (một) hộp quẹt gas màu xanh.
  • + 01 (một) vòng chuỗi bằng gỗ màu nâu.

* Về trách nhiệm dân sự: quá trình giải quyết vụ án, gia đình bị hại Trần Hồng D yêu cầu bị cáo bồi thường 758.797.500 đồng chi phí mai táng và tiền cấp dưỡng nuôi con; yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 180.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSTG-P2 ngày 08 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Võ Minh Đ về tội “Giết người” quy định tại điểm a, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Minh Đ phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm a, p khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 19 năm tù. Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 dao xếp bằng kim loại dài 12,2m trong đó cán dao dài 7,1cm, lưỡi dài 5,1cm, rộng 01cm, mũi nhọn; 01 (một) đôi dép màu đen, nhựa, có kích thước (29x11x8)cm; 01 (một) đôi dép màu đen, quay chéo màu xanh, dép có kích thước (26x10x8)cm; 01 (một) mắt kính có gọng đeo màu xanh, mắt kính màu trắng; 01 (một) cái nón kết màu đen xám; 01 (một) lưỡi lam màu trắng, trên lưỡi lam có chữ “BIC”; 01 (một) cái nồi nấu bằng kim loại, tròn, có đường kính 19,3cm, cao 09cm, tay cầm bằng kim loại dài 28,7cm tròn có đường kính 2,7cm, đáy nồi bị biến dạng; 01 (một) hộp quẹt gas màu xanh; 01 (một) vòng chuỗi bằng gỗ màu nâu. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về khoản tiền thiệt hại, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại trong thời hạn nhất định.

Ý kiến của Luật sư bào chữa tội cho bị cáo: Thống nhất tội danh mà cáo trạng truy tố bị cáo. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo là thành phần lao động có thu nhập thấp, bị hại cũng có lỗi do đánh bị cáo, bị cáo có ý thức thành khẩn khai báo theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị cáo và gia đình bị hại thỏa thuận về bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 591 Bộ luật Dân sự giải quyết.

Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Trần Nguyên L1, Trần Duy T1: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo quanh co, không thành khẩn về mục đích, phương pháp phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp

8

nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo”, tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, do vậy hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, khi thấy bị cáo Võ Minh Đ đi vào quán giải khát của mình tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bà Nguyễn Trần Nguyên L1 nghi trộm cắp tài sản nên tri hô thì ông Trần Hồng D (chồng bà L1) chạy đến bắt giữ và dùng tay đánh nhiều cái vào mặt của bị cáo Đ, nên Đ dùng dao xếp bằng kim loại dài 12,2m, trong đó cán dao dài 7,1cm, lưỡi dài 5,1cm, rộng 01cm, mũi nhọn (loại dao được gắn vào đầu dây thắt lưng) đâm nhiều nhát vào vùng ngực của ông Trần Hồng D dẫn đến tử vong do mất máu cấp bởi vết thương xuyên thấu ngực, thủng buồng tâm thất trái. Lúc này anh Trần Duy T1 (con của ông D) thấy Đ đánh ông D, nên anh T1 lấy 01 cái nồi bằng I có tay cầm chạy đến đánh Đ, liền bị Đ dùng dao đâm vào người anh T1 nhiều cái gây thương tích 08% thì bị khống chế bắt giữ.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp biên bản hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Minh Đ phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung “Giết 02 người trở lên” và “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm a, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

9

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, xâm phạm tính mạng nhiều người khác, gây ảnh hưởng xấu trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức việc dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu trên cơ thể của các bị hại là gây nguy hiểm cho tính mạng nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm thỏa mãn cơn tức giận, gây ra cái chết của bị hại D và thương tích cho bị hại T1. Việc bị hại T1 không chết là nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình tố tụng các bị cáo có ý thức thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng, không có.

Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo tốt đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 dao xếp bằng kim loại dài 12,2m, lưỡi dài 5,1cm, rộng 01cm, mũi nhọn bằng kim loại, cán dài 7,1cm, rộng nhất 2,5cm, nhỏ nhất 1,8cm trên cán có hoa văn không rõ hình, bằng kim loại. Xét thấy, đây là công cụ mà bị cáo sử dụng phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Đối với 01 đôi dép màu đen, nhựa, có kích thước (29x11x8)cm; 01 đôi dép màu đen, quay chéo màu xanh, dép có kích thước (26x10x8)cm; 01 mắt kính có gọng đeo màu xanh, mắt kính màu trắng; 01 cái nón kết màu đen xám; 01 lưỡi lam màu trắng, trên lưỡi lam có chữ “BIC”; 01 cái nồi nấu bằng kim loại, tròn, có đường kính 19,3cm, cao 09cm, tay cầm bằng kim loại dài 28,7cm tròn có đường kính 2,7cm, đáy nồi bị biến dạng; 01 hộp quẹt gas màu xanh; 01 vòng chuỗi bằng gỗ màu nâu. Xét thấy, các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại chi phí mai táng cho ông D là 38.797.000 đồng, tiền cấp dưỡng nuôi con ông D tên Trần Yên T4, sinh ngày 25/4/2017 một lần là 720.000.000 đồng, khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình của ông D là

10

180.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất bồi thường thiệt hại và bù đắp tổn thất tinh thần theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp bị hại, tuy nhiên bị cáo xin bồi thường trong quá trình chấp hành án phạt tù. Xét thấy, việc bị cáo thống nhất số tiền bồi thường thiệt hại và bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình người bị hại là phù hợp Điều 591 Bộ luật Dân sự nên ghi nhận, về thời hạn bồi thường mà bị cáo yêu cầu không được người đại diện hợp pháp của bị hại chấp nhận, trái với quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự nên cần buộc bị cáo bồi thường kịp thời, trong thời hạn nhất định.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6]. Xét ý kiến bào chữa của Luật sư là có căn cứ chấp nhận một phần như đã phân tích trên.

[7]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai rõ về hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và có thiện chí bồi thường thiệt hại nên thuộc trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện hợp pháp bị hại về đề nghị này.

[8]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Võ Minh Đ phạm tội “Giết người”.

2. Áp dụng điểm a, p khoản 1 Điều 123; khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Minh Đ 19 năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 12/7/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 dao xếp bằng kim loại dài 12,2m, lưỡi dài 5,1cm, rộng 01cm, mũi nhọn bằng kim loại, cán dài 7,1cm, rộng nhất 2,5cm, nhỏ nhất

11

1,8cm trên cán có hoa văn không rõ hình, bằng kim loại; 01 đôi dép màu đen, nhựa, có kích thước (29x11x8)cm; 01 đôi dép màu đen, quay chéo màu xanh, dép có kích thước (26x10x8)cm; 01 mắt kính có gọng đeo màu xanh, mắt kính màu trắng; 01 cái nón kết màu đen xám; 01 lưỡi lam màu trắng, trên lưỡi lam có chữ “BIC”; 01 cái nồi nấu bằng kim loại, tròn, có đường kính 19,3cm, cao 09cm, tay cầm bằng kim loại dài 28,7cm tròn có đường kính 2,7cm, đáy nồi bị biến dạng; 01 hộp quẹt gas màu xanh; 01 vòng chuỗi bằng gỗ màu nâu (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/5/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang).

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 591 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền chi phí mai táng là 38.797.000 đồng, bù đắp tổn thất tinh thần là 180.000.000 đồng, cấp dưỡng cho cháu Trần Yên T4, sinh ngày 25/4/2017 là 720.00.000 đồng. Tổng cộng 938.797.000 đồng.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Võ Minh Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 40.163.910 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Bị cáo Võ Minh Đ, bà Nguyễn Trần Nguyên L1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Duy T1, anh Võ Minh N có quyền quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - Bộ phận thi hành án phạt tù;
  • - CTHADS tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Phòng KTNV và THA (TAT);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Lê Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội "giết người"

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hoảng 04 giờ 30 phút ngày 10/7/2023, khi thấy bị cáo Võ Minh Đ đi vào quán giải khát của mình tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bà Nguyễn Trần Nguyên L1 nghi trộm cắp tài sản nên tri hô thì ông Trần Hồng D (chồng bà L1) chạy đến bắt giữ và dùng tay đánh nhiều cái vào mặt của bị cáo Đ, nên Đ dùng dao xếp bằng kim loại dài 12,2m, trong đó cán dao dài 7,1cm, lưỡi dài 5,1cm, rộng 01cm, mũi nhọn (loại dao được gắn vào đầu dây thắt lưng) đâm nhiều nhát vào vùng ngực của ông Trần Hồng D dẫn đến tử vong do mất máu cấp bởi vết thương xuyên thấu ngực, thủng buồng tâm thất trái. Lúc này anh Trần Duy T1 (con của ông D) thấy Đ đánh ông D, nên anh T1 lấy 01 cái nồi bằng I có tay cầm chạy đến đánh Đ, liền bị Đ dùng dao đâm vào người anh T1 nhiều cái gây thương tích 08% thì bị khống chế bắt giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger