Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 11 tháng 6 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Châu Thanh Nguyên.
  • - Ông Nguyễn Lê Bảo Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Néang Ly - Kiểm sát viên.

Vào ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Néang Thị Đ

Néang Thị Đ (tên gọi khác: không), sinh ngày 08 tháng 8 năm 1992, tại huyện T, tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: khóm S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau H và bà Néang Kim L; chồng: ông Chau K, sinh năm 1990; con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2018;

Tiền án: không;

2

Tiền sự: ngày 06/12/2022, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 07/12/2022; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trứ từ ngày 09/12/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa của bị cáo: Ông Đỗ Khoa K1 – Trợ giúp viên pháp lý – Thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Bà Trương Thị Thanh T, sinh năm 1994; bà Néang H1, sinh năm 1974; bà Néang N, sinh năm 1980; bà Néang Kim S, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: khóm S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang.
  • + Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1993 và Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986; cùng địa chỉ: khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang.

- Người phiên dịch: Ông Kim S1 – Công tác tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 23/01/2023, tại nhà bà Néang Kim S thuộc khóm S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, lực lượng Công an thị trấn C phát hiện Néang T, Néang H1, N, Trương Thị Thanh T2, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thành N1 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức bài binh 06 lá, thua bằng tiền. T với vai trò làm cái, chia cho mỗi người 06 lá bài, chọn bài theo hình thức thủ hoặc cưa, đối chiếu 06 lá bài của mỗi người chơi với 06 lá bài của T, số nút ai lớn hơn thì thắng bằng với số tiền người chơi đặt, mỗi ván người chơi được đặt tiền từ 20.000 đến 200.000 đồng. Thi Đa tham gia đánh bạc cược 02 ván, ván đầu hòa 25.000 đồng, ván thứ hai đặt 25.000 đồng thì bị bắt quả tang. Tại đây, thu giữ trên chiếu bạc 1.200.000 đồng (trong đó của Đ là 100.000 đồng, của T 600.000 đồng, của H1 50.000 đồng, của Nước 50.000 đồng, của N1 300.000 đồng, của T1 100.000 đồng), số tiền thu giữ được trên người dùng để đánh bạc của Thi Đ1 là 500.000 đồng, của T 1.000.000 đồng, của Nước 200.000 đồng, của N1 230.000 đồng và của T1 1.000.000 đồng.

Ngày 06/12/2022, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ô, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 07/12/2022.

Ngày 09/12/2023, Đ1 bị khởi tố, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

3

Vật chứng thu giữ: Tiền Việt Nam 600.000 đồng thu giữ của bị cáo Đ1.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có lời khai phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên. Bà Néang Kim S xác định có cho Đ1, T, N, hôn, T1, N1 đánh bài tại nhà, mục đích để bán nước uống giải khát, không thu lợi.

Qua trích lục thông tin, T, N, hôn, T1, N1 không có tiền án, tiền sự.

Cáo trạng số 33/CT-VKSTT-HS ngày 09/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, đồng ý theo Quyết định truy tố của Viện kiểm sát, thành khẩn khai báo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều có lời khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát công bố luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội Đánh bạc, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù, cho hưởng án treo. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền Việt Nam 600.000 đồng đã thu giữa của bị cáo. Đối với T, N, hôn, T1, N1 có hành vi đánh bạc nhưng chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên chuyển xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và

4

những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Nên, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đều đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham dự phiên tòa đúng quy định nhưng tại phiên tòa đều vắng mặt. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[3] Về hành vi phạm tội:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Ngoài ra, còn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường đã lưu, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 160/QĐ-XPHC ngày 06/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ô, Biên lai thu tiền phạt số 0016989 ngày 07/12/2022, nên đủ cơ sở xác định: Bị cáo đã có hành vi đánh bạc, đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ô xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 06/12/2022 với số tiền nộp phạt 3.500.000 đồng. Đến ngày 07/12/2022, bị cáo đã chấp hành xong. Đến ngày 23/01/2023 (thời điểm chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đánh bạc của bị cáo), bị cáo lại tiếp tục có hành vi đánh bạc với hình thức chơi bài binh 06 lá được thua bằng tiền, với số tiền thu được dùng để đánh bạc là 4.130.000 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành nêu trên với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Néang Thị Đ về tội "Đánh bạc” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo học lực thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, thuộc thành phần lao động, là người dân tộc Khmer, sinh sống ở vùng kinh tế khó khăn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

5

[5] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; không có tiền án, tiền sự.

Xét, không cần thiết cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội, có thể để các bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục. Nên bị cáo hưởng án treo.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với khóm S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc Khmer, hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tiền Việt Nam 600.000 đồng, đây là số tiền bị cáo dùng để đánh bạc, xét tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Những vấn đề khác:

Đối với các ông, bà: Nguyễn Thị Thanh T3, N, N, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Văn T1 đã có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị trấn C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định của pháp luật.

Riêng bà Kim S không thu lợi từ việc đánh bạc nên không xem xét trách nhiệm trong vụ án.

[8] Án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Néang Thị Đ phạm tội “Đánh bạc”;

6

Xử phạt: Bị cáo Néang Thị Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo;

Thời hạn thử thách của bị cáo Néang Thị Đ là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án 11/6/2024 (ngày mười một, tháng sáu, năm hai không hai bốn).

Giao bị cáo Néang Thị Đ cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo Néang Thị Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ-VKSTT ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn và Ủy nhiệm chi số 054/240520_9041385_0762001).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Néang Thị Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

7

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND huyện Tri Tôn (2);
  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Đặng Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về đánh bạc

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger