|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/DS-ST Ngày 11-6-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Loan
- Bà Hoàng Thị Kim Oanh
Thư ký phiên toà: ông Thân Văn Đông- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Thùy- Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 242/2023/TLST- DSST ngày 23/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 49/2024/QÐST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).
Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng Quản trị V1.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Đỗ Hoàng L, chức vụ: Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ Pháp lý.
Ông Phạm Tuấn A, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý
Ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý theo văn bản ủy quyền số: 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/7/2023 của Chủ tịch hội đồng quản trị.
Người nhận ủy quyền lại: Ông Nguyễn Phúc T1 – Trưởng bộ phận xử lý nợ V1 – AMC.
Ông Giàng A S- Chuyên viên xử lý nợ V1(có mặt)
Theo văn bản ủy quyền số: 210/2024//UQ-LCC-KHCNMB1 ngày 15/3/2024.
Bị đơn: Anh Ngô Văn T2, sinh năm 1989 và chị Tạ Thị L1, sinh năm 1991(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề 12/6/2023, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Giàng A S trình bày:
Theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô sô LN1912232020354 ngày 15/01/2020 giữa V1 và ông T2, bà L1 thì anh Ngô Văn T2, chị Tạ Thị L1 vay của V1 tổng số tiền 392.000.000 đồng, thời hạn vay 83 tháng, mục đích sử dụng vốn vay: thanh toán tiền mua xe ô tô TOYOTA VIOS E MT, lãi suất trong hạn 9,49%, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là 01 xe ô tô TOYOTA VIOS biển số 98A-292.96 thuộc quyền sở hữu của anh Ngô Văn T2 và chị Tạ Thị L1.
Quá trình thực hiện hợp đồng trên anh Ngô Văn T2, chị Tạ Thị L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/03/2021 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn. Tính đến ngày 11/6/2024 anh T2, chị L1 còn nợ V1 tổng số tiền nợ gốc: 344.175.527 đồng, nợ lãi trong hạn: 220.822.614 đồng, phạt chậm trả 35.021.691 Tổng cộng: 600.019.832 đồng.
Nay V1 yêu cầu Tòa án buộc anh Ngô Văn T2, chị Tạ Thị L1 phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền trên và các khoản phát sinh liên quan đến hợp đồng tín dụng và phải trả lãi cho đến khi trả xong nợ; V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô để thu hồi nợ.
Bị đơn là anh Ngô Văn T2, chị Tạ Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của V1.
Biên bản xác minh tại gia đình ông Ngô Văn B (là bố đẻ anh T2) ở thôn T, xã T, huyện H: ông B cung cấp: Vợ chồng anh T2, chị L1 hiện tại không có nhà, anh T2 hiện đang đi làm tại Hà Nội rất ít khi có mặt ở nhà. Chị L1 đi làm công ty sáng đi tối mới về nhà. Anh T3 vay tiền ngân hàng mua ô tô là đúng nhưng do nợ nần nhiều nên chiếc xe ô tô anh T3 đã cầm cố để lấy tiền trả nợ, cầm cố ở đâu ông không biết.
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/4/2024 tại gia đình anh T3, chị L1 đối với chiếc xe ô tô TOYOTA biển kiểm soát 98A-292.96. Kết quả: Hội đồng thẩm định không thẩm định được chiếc xe ô tô do chiếc xe không có ở nhà. Theo ông B trình bày thì chiếc xe ô tô này, anh T3 đã mang đi cầm cố lấy tiền trả nợ.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của V1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Đối với số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ V1 tự nguyện chịu không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật.
Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 317; 318; 320; 351; 463; 466; 468; Điều 470 của Bộ luật dân sự. Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 91; Điều 95; Điều 98 của Luật tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1
Buộc anh Ngô Văn T2, chị Tạ Thị L1 phải có nghĩa vụ liên đới trả V1 số tiền còn nợ theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô sô LN1912232020354 ngày 15/01/2020 số tiền nợ gốc: 344.175.527 đồng, nợ lãi trong hạn: 220.822.614 đồng, L2 phạt quá hạn 35.021.691 Tổng cộng: 600.019.832 đồng.
Anh T3, chị L1 còn phải tiếp tục trả cho V1 số tiền nợ lãi phát sinh theo thỏa thuận quy định tại Hợp đồng kể từ ngày 12/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản đảm bảo là chiếc xe ô tô là tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Về án phí: anh Ngô Văn T2, chị Tạ Thị L1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Về chi phí thẩm định tại chỗ: V1 tự nguyện chịu và không yêu cầu nên không xem xét.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho V1 theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Anh Tuấn, chị L1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án là có căn cứ.
[2] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T2, chị L1 đang sinh sống tại huyện H nên Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 35; khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của V1 yêu cầu anh T2, chị Liên thanh t trả số tiền còn nợ thì thấy: Ngày 15/01/2020, anh Ngô Văn T2, chị Tạ Thị L1 đã ký hợp đồng vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1910032020354 ngày 15/01/2020 với ngân hàng V1 để vay số tiền 392.000.000 đồng với lãi suất 9,49%/năm, thời hạn vay 83 tháng, mục đích vay để mua xe ô tô. Ngày 16/01/2020, V1 đã giải ngân cho anh T2, chị L1 bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của Công ty T4 số tiền 392.000.000 đồng. Để bảo bản cho khoản vay, anh T2 chị L1 đã thế chấp cho V1 chiếc xe ô tô TOYOTA VIOS biển kiểm soát 98A-292.96. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, anh T2, chị L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. V1 đã chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn tính đến ngày 11/6/2024 344.175.527 đồng, nợ lãi trong hạn: 220.822.614 đồng, L2 phạt quá hạn 35.021.691 Tổng cộng: 600.019.832 đồng.
Vì vậy, yêu cầu của V1 buộc anh T2, chị L1 phải trả tổng số tiền trên và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1912232020354 ngày 15/01/2020 kể từ ngày 12/6/2024 đến ngày trả dứt nợ là có căn cứ chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu của V1 yêu cầu phát mại tài sản tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án thì thấy: căn cứ vào hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô thì anh T2 chị L1 đồng ý thế chấp chiếc xe ô tô TOYOTA VIOS biển kiểm soát 98A-292.96 để đảm bảo thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của hợp đồng, trường hợp anh T2, chị L1 không trả được nợ V1 có quyền phát mại tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án là có căn cứ.
[5] Về chi phí tố tụng: V1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về án phí: Do anh T2, chị L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự
Căn cứ Điều 317; 318; 320; 351; 463; 466; 468; Điều 470 của Bộ luật dân sự. Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95; Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1
Buộc anh Ngô Văn T2 và chị Tạ Thị L1 phải có nghĩa vụ liên đới trả V1 số tiền dư nợ tính đến ngày 11/6/2024 là: nợ gốc 344.175.527 đồng, nợ lãi trong hạn: 220.822.614 đồng, L2 phạt quá hạn 35.021.691. Tổng cộng: 600.019.832 đồng.
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (12/6/2024) anh T2, chị L1 còn phải liên đới trả toàn bộ lãi phát sinh kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến ngày anh T2, chị L1 trả hết nợ cho V1 theo đúng mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1912232020354 ngày 15/01/2020.
Trường hợp anh T2, chị L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền phát mại tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô TOYOTA VIOS biển kiểm soát 98A-292.96 để thu hồi nợ.
Về án phí: anh T2, chị L1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 28.000.000đồng.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 12.437.000 đồng cho V1 theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 000317 ngày 19/10/2023.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9- Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đào Thị Oanh |
Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 35/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng V - Ngô Văn T
