|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 11-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Mẫn
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hoa Lài
- Ông Nguyễn Kim Phong
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn. Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn. Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Thiều Văn M (tên gọi khác: không), sinh năm 1998 tại huyện C, tỉnh H;
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trịnh Thị Trúc L. Trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.
Bị hại:
- Chị Võ Thị Đình N, sinh năm 2005
- Ông Mai Thành K, sinh năm 1962
- Chị Lê Thị Yến N1, sinh năm 2001.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh H. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp G, xã V, huyện V, tỉnh H. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh H. Vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Thiều Văn H, sinh năm 1948.
- Anh Nguyễn Vĩnh T1, sinh năm 1988.
- Anh Phạm Ngũ T2, sinh năm 1979.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh H. Có mặt
Địa chỉ: ấp C, thị trấn B, huyện C, tỉnh H. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh H. Vắng mặt
Người làm chứng: Võ Thị Thanh T3, Lâm Ngọc H1, Lê Hoàng D, Cao Trọng H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 40 phút ngày 01/9/2023, Công an xã T, huyện C, tỉnh H, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của chị Võ Thị Đình N về việc: vào khoảng 10 giờ ngày 20/8/2023, tại ấp T, xã T, huyện C chị N bị mất trộm 01 điện thoại di động hiệu Vivo U10 màu xanh, mua vào năm 2020. Trước khi phát hiện mất trộm chị N thấy có một người đàn ông lạ mặt, mặc áo sơ mi trắng, đeo khẩu trang và đội mũ bảo hiểu màu đỏ dẫn xe môtô nhãn hiệu Future Neo, màu đỏ xám, biển số 65N1-0438 đến trước nhà, một lúc sau thì điều khiển xe chạy đi.
Qua điều tra xác định: Vào khoảng 10 giờ 20 phút ngày 20/8/2023, Thiều Văn M điều khiển xe môtô, nhãn hiệu Future Neo, biển kiểm soát 65M1-0438 đi một mình từ xã T đến xã T, huyện C, tỉnh H để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Khi đến ấp T, xã T, huyện C, thấy nhà chị N không có ai trông coi nên M dựng xe ngoài lội rồi đi bộ vào nhà tìm kiếm tài sản lấy trộm. Thấy điện thoại di động hiệu Vivo U10 chị N đang sạc pin để trên kệ trong nhà, M đi lại gỡ sạc ra rồi lấy trộm điện thoại và bỏ đi. Sau khi lấy trộm điện thoại di động, M mang đến gặp Nguyễn Vĩnh T1 bán với giá 500.000 đồng và đem tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-ĐGTS ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang, kết luận định giá một điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo U10, màu xanh, Ram 4GB, có giá trị là 975.000 đồng.
Ngày 14/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Thiều Văn M, về tội Trộm cắp tài sản. Quá trình thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam và đưa M về trụ sở Công an huyện C, Thiều Văn M đã tự nguyện lấy trong túi quần Jean phía sau bên phải giao nộp gồm: một bịch nylon trong suốt được kẹp kín, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, một gói giấy bạc, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, một ống xi lanh đã qua sử dụng. Thiều Văn M thừa nhận bịch nylon và gói giấy bạc bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy, loại Heroin mà M mua của người đàn ông ở địa bàn tỉnh Vĩnh Long để sử dụng, còn bơm kim tiêm do M mua để sử dụng ma túy nhưng chưa sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt tạm giam nên M giao nộp.
Tại Kết luận giám định số 1148/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:
“Mẫu ký hiệu M1: Chất rắn màu trắng chứa trong gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,06285 gam, loại Heroine (H), có tên khoa hoạc là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Mẫu ký hiệu M2: Chất rắn màu trắng chứa trong 01 bịch nylon gài kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,11206gam, loại Heroine (H), có tên khoa hoạc là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.”
Ngoài ra, quá trình điều tra còn chứng minh được Thiều Văn M ngoài thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 20/8/2023, thì còn thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/5/2023, Thiều Văn M điều khiển phương tiện xe môtô, biển kiểm soát 86K9-6264 chở Lê Hoàng D đi từ xã T, huyện C đến nhà bạn ở huyện G, tỉnh K để chơi. Khi đến đoạn đường ấp G, xã V, huyện V, tỉnh H thì xe hết xăng, M kêu D xuống xe chờ M đi đỗ xăng. Sau đó, M dẫn xe đi ngược lại một đoạn đường thì thấy nhà ông Mai Thành K không có người trông coi, nên đi vào lén lút lấy một can nhựa dung tích 05 lít, bên trong có 2,5 lít xăng Ron 95-III đi ra lộ định đỗ vào xe thì ông Mai Thành K phát hiện nên truy hô và cùng người dân xung quanh giữ M lại và trình báo Công an.
Vụ thứ hai: vào khoảng 18 giờ ngày 05/11/2023, Thiều Văn M đi bộ từ nhà theo tuyến lộ nông thôn để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà anh Đặng Trường T4 thấy nhà anh T4 mở cửa nhưng không có ai trông coi nên đã lén lút đi vào tìm tài sản lấy trộm. Khi vào nhà, M đi vào phòng ngủ thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro, màu xanh, bộ nhớ 128GB đang sạc pin của chị Lê Thị Yến N1 nên đi lại rút dây sạc và lấy trộm điện thoại, rồi nhanh chống tẩu thoát. Sau đó, M mang điện thoại đến bán cho anh Phạm Ngũ T2 với giá 1.650.000 đồng, rồi lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Ngày 08/11/2023, anh Phạm Ngũ T2 biết chiếc điện thoại đã mua của M là tài sản do trộm cắp mà có nên đã giao nộp cho Công an xã T, huyện C, tỉnh H. Quá trình điều tra, Thiều Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐ.ĐGTS ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện V, tỉnh Hậu Giang, kết luận định giá 2,5 lít xăng RON 95-III và một can nhựa có dung tích 5 lít có tổng giá trị là 80.250 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 66/KL-ĐGTS ngày 08/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND huyện C, tỉnh Hậu Giang, kết luận định giá một điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh, bộ nhớ 128Gb, số IMEI 356961139857653 có giá trị là 10.062.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKS-HCTA ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố Thiều Văn M về tội Trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị áp dụng:
- Điểm g Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ Luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Thiều Văn M từ 03 (bảy) năm đến 04 (Ba) năm tù.
- Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Thiều Văn M từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.
- Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Thiều Văn M phải chấp hành từ 08 (tám) năm đến 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 14/11/2023. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tang vật chứng:
- - Đề nghị áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: trả lạicho ông Thiều Văn H 01 xe môtô biển kiểm soát 65M1-0438. Tạm giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra 01 xe mô tô biển kiểm soát 86K9-6264 để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.
- - Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1148/2023 ngày 24/11/2023, bên ngoài có chữ ký Đặng Thị Phương L1; Một bơm kim tiêm; Một cái quần Jean màu đen đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Án phí buộc bị cáo chịu theo quy định.
Bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Ngũ T2, Nguyễn Vĩnh T1 vắng mặt tại phiên tòa nên không thể phát biểu yêu cầu nào mới.
Bị cáo đã khai nhận về hành vi của mình như nội dung nêu trên và xin Toà xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu: Thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên về hành vi phạm tội của bị cáo, đối với các tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo được hưởng thì người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tình tiết bị cáo đã tự giao nộp ma túy khi hành vi chưa bị phát hiện nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 và đề nghị cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất đối với khung hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, căn cứ Điều 292, 297 của Bộ Luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[3] Tại phiên tòa bị cáo Thiều Văn M khai nhận hành vi của mình như Cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định như sau:
Vào ngày 20/8/2023, Thiều Văn M đã lén lút đột nhập vào nhà chị Võ Thị Đình N, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh H lấy trộm điện thoại di động hiệu Vivo U10, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản là 975.000 đồng.
Ngoài ra, vào ngày 02/5/2023 tại ấp G, xã V, huyện V, tỉnh H, Thiều Văn M có hành vi lấy trộm 2,5 lít xăng của ông Mai Thành K. Ngày 05/11/2023, Thiều Văn M đã lén lút đến nhà chị N1 tại ấp A, xã T, huyện C lấy trộm điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro, màu xanh, bộ nhớ 128GB theo kết quả định giá tài sản trong tố tụng hình sự các tài sản trên có giá trị tổng cộng là 10.142.250 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp là 11.117.250 đồng.
Quá trình điều tra về hành vi trộm cắp tài sản thì bị cáo tự giao nộp: một bịch nylon trong suốt được kẹp kín, bên trong có chứa chất rắn màu trắng; một gói giấy bạc, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, một ống xi lanh đã qua sử dụng. Bị cáo thừa nhận bịch nylon và gói giấy bạc bên trong có chứa chất rắn màu trắng là ma túy có, theo kết luận giám định có trọng lượng là 0,17491 gam loại Heroin.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm nhưng để nhanh chóng có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, quyền quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy. Do đó, hành vi của các bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại Điều 173 và Điều 249 Bộ luật Hình sự. nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo về hành vi phạm tội nêu trên là đúng người, đúng tội.
Bị cáo Thiều Văn M đã từng bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm chưa được xóa tiền án, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp và tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị cáo phải chịu trách hình sự theo khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với Lê Hoàng D ngày 02/5/2023 có cùng Thiều Văn M đi đến địa bàn huyện V, tỉnh H nhưng việc M trộm cắp tài sản thì D không biết. Đối với Nguyễn Vĩnh T1, Phạm Ngũ T2 có hành vi mua điện thoại do Thiều Văn M trộm cắp mà có, tuy nhiên khi mua T1 và T2 không biết đây là tài sản do M phạm tội mà có. Đối với ông Thiều Văn H đã có hành vi cho M mượn hai xe môtô, gồm biển kiểm soát 86K9-6264 và 65M1-0438 để sử dụng làm phương tiện di chuyển, M đã dùng hai xe môtô để đi trộm cắp tài sản, tuy nhiên ông H không biết. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Lê Hoàng D, Nguyễn Vĩnh T1, Phạm Ngũ T2 và Thiều Văn H là có căn cứ.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thuộc trường hợp 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xét về hoàn cảnh gia đình bị cáo là hộ cận nghèo có xác nhận của địa phương nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tuy bị cáo tự giao nộp ma túy khi hành vi tàng trữ chưa bị phát hiện nhưng tại thời điểm giao nộp bị cáo đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra bắt để tạm giam, bị cáo tự nhận thấy sẽ bị phát hiện nên Hội đồng xét xử không áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 mà chỉ xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét về tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Thiều Văn M có nhân thân xấu, bản thân có nhiều tiền án chưa được xóa nhưng không cố gắng sửa đổi mà còn nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để nhanh chóng có tiền tiêu xài, thỏa mãn cá nhân, dùng số tiền có được để mua ma túy tàng trữ trong người để sử dụng. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm là phạt tù để bị cáo tự suy ngẫm, cải tạo về hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên khi lượng hình có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Về vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 86K9-6264 bị cáo M sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội là tài sản thuộc sở hữu của ông Thiều Văn H, nhưng quá trình điều tra chưa xác minh được nguồn gốc sử dụng nên tạm giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra quản lý và tiếp tục xác minh làm rõ. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65M1-0438 bị cáo M sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội là tài sản thuộc sở hữu của ông Thiều Văn H mua lại có nguồn gốc rõ ràng, ông H không biết việc M sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên được trả lại.
Đối với 01 phong bì niêm phong số 1148/2023 ngày 24/11/2023, bên ngoài có chữ ký Đặng Thị Phương L1; Một bơm kim tiêm; Một cái quần Jean màu đen đã qua sử dụng là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tôi của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề để xem xét.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về việc cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất đối với khung hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ nên được cấp nhận. Đối với đề nghị cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 như đã phân tích ở trên là chưa đủ để được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều, Khoản, Đ; tội danh; mức hình phạt; án phí... là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Thiều Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản” và Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về xử lý vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo và ông Thiều Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/11/2023. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ Luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Thiều Văn M 03 (ba) năm tù về hành vi trộm cắp tài sản.
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Thiều Văn M 05 (năm) năm tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Thiều Văn M phải chấp hành là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 14/11/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày xét xử 11/6/2024 để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trả lại cho ông Thiều Văn H xe mô tô biển kiểm soát 65M1-0438. Tạm giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra quản lý xe mô tô biển kiểm soát 86K9-6264 để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1148/2023 ngày 24/11/2023, bên ngoài có chữ ký Đặng Thị Phương L1; Một bơm kim tiêm; Một cái quần Jean màu đen đã qua sử dụng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Mẫn |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội
