Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BA

TỈNH PHÚ THỌ

Bản số: 35/2024/HS-ST

Ngày 10/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vi Thị Phượng
  2. Ông Phùng Văn Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên tòa: Ông Ngô Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nông Văn N (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 07/10/1967 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 03/10; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nông Văn H (đã chết) và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1932; vợ: Đỗ Thị L, sinh năm 1965; con: 03 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án: 01 (Tại bản án số 23/2021/HSST ngày 31/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nông Văn N1 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” được trừ đi 06 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 07 tháng 24 ngày, đã chấp hành xong); Tiền sự: Không. Nhân thân: 05 (Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37 ngày 25/09/2008, của Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt Ninh 5.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc, đã nộp phạt xong. Tại Bản án số 02/1991/HSST ngày 24/01/1992, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Hòa, tỉnh Vĩnh Phú xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đã chấp hành xong. Tại bản án số 07/2012/HSST ngày 17/02/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 08 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, được trừ đi thời hạn tạm giữ tạm giam là 80 ngày, xác nhận N1 đã chấp hành xong. Tại bản án số 24/2018/HS-ST ngày 15/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt N 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong. Tại bản án số 28/2019/HS-ST ngày 31/7/2019, của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt N1 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, bị tịch thu SCNN số tiền 991.000đ, đã chấp hành xong). Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Hà Ngọc T, sinh năm 1972
  • Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
  • + Ông Hà Văn N1, sinh năm 1968
  • Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Ông Hà Văn T, sinh năm 1968
  • Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Đăng K, sinh năm 1981
  • Địa chỉ: Khu D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 35 phút, ngày 16/12/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà ở của gia đình Nông Văn N, sinh năm 1967, thuộc khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang diễn ra hành vi đánh bạc. Công an huyện T chính quyền địa phương xã T có mặt tại nhà ở của N N1 để xác minh, phát hiện Nông Văn N1 đang ngồi ở bộ bàn ghế kê tại gian phòng thờ ở tầng 2, bên phải cầu thang của nhà ở sử dụng giấy bút, điện thoại ghi chép, tổng hợp các con số. N1 khai nhận đang tổng hợp, so sánh, đối chiếu các số lô, số đề mà bản thân đã bán cho những người chơi vào ngày 16/12/2023 với kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút cùng ngày. Công an huyện T đã tiến hành lập biên bản sự việc và tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm: 01 tờ giấy kẻ ngang nhãn hiệu “Hong Ha” kích thước 25 x 17,5cm một mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, tại vị trí góc phải trên cùng của một mặt có ghi "16/12"; 01 mảnh giấy màu trắng kich thước 6,2 x 9,3cm, một mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, ký hiệu trên cùng có ghi “96-10”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1915 màu xanh bên trong gắn sim số 0865409987; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen bên trong gắn 02 sim số 0877929329 và 0376810412; 01 chiếc bút bi nhãn hiệu “Matixs FO-024" mực màu xanh và số tiền 1.790.000₫.

Quát trình điều tra, xác định được như sau:

Do không có việc làm ổn định nên vào ngày 16/12/2023, Nông Văn N1 đã thực hiện hành vi bán số lô, số đề cho những người có nhu cầu. Những người muốn mua số lô, số đề có thể đến trực tiếp gặp N1 hoặc nhắn tin, gọi điện đến số thuê bao điện thoại 0865.409.xxx của N1. Ngoài ra, cũng có thể nhắn tin qua ứng dụng Zalo đến tài khoản Zalo của N2 có tên “N1” được đăng ký bởi số thuê bao điện thoại 0912.078.xxx. Khi nhận được tin nhắn của người chơi, N1 nhắn tin lại là “Ok”, có nghĩa là N đồng ý. Sau khi bán số lô, số đề N1 sẽ tổng hợp vào bảng lô đề để theo dõi và tính toán thắng thua. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng cùng ngày làm căn cứ tính thắng thua, cụ thể: Đối với số đề sẽ căn cứ vào 02 số cuối cùng của giải đặc biệt, nếu người chơi mua số đề trùng với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt là trúng thưởng, khi người chơi trúng thưởng N1 sẽ phải trả số tiền gấp 70 lần với số tiền người chơi đã mua số đề, N1 không triết khấu % tiền bán số đề cho những người chơi; đối với số lô sẽ căn cứ vào 02 số cuối cùng của tất cả các giải, nếu người chơi mua số lô trùng với 02 số cuối cùng của một trong số các giải là trúng thưởng, nếu số lô đã mua trung với 02 số cuối của 02 giải thì được nhân đôi số tiền gấp 02 lần (02 nháy), khi người chơi trúng thưởng N1 sẽ phải trả cho người chơi số tiền 80.000đ/01 điểm lô. Đối với mỗi 01 điểm lô N1 bán với giá từ 22.000đ đến 22.500đ/01 điểm lô. Đối với lô xiên 3 (gồm 03 cặp số) N1 bán với giá 10.000đ/01 điểm, nếu người chơi mua 03 cặp số mà trùng với 03 cặp số cuối cùng của các giải là trúng thưởng, khi người chơi trúng thưởng N1 sẽ phải trả cho người chơi số tiền 350.000đ/01 điểm lô xiên.

Khoảng 16 giờ 57 phút ngày 16/12/2023 Triệu Văn H1, sinh năm 1959, trú tại khu A, xã T, huyện T, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro gắn sim số thuê bao 0948145355 vào ứng dụng Zalo có tên “Trieu Hien” được đăng ký bằng số điện thoại 0948.145.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo của N1 là “Ninh” được đăng ký bằng số điện thoại 0912.078.xxx mua của N1 30 điểm lô x 22.500₫ = 675.000₫ (H chưa trả tiền cho N1). Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày xác định H trúng thưởng số lô 96 = 10 điểm x 80.000đ/01 điểm = 800.000₫ (N1 chưa trả tiền cho H). Như vậy, tổng số tiền H đánh bạc với N2 trong ngày 16/12/2023 là 1.475.000đ. Quá trình điều tra H đã giao nộp số tiền 675.000đ, đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 Pro gắn sim số thuê bao 0948145355 H đã vứt đi (không nhớ vị trí) vì vậy không thu giữ được.

Khoảng 17 giờ ngày 16/12/2023 N1 đang ở nhà một mình thì Hà Văn T, sinh năm 1968, trú tại khu A, xã T, huyện T, đến nhà gặp N1 và mua của N1 tổng số 50 điểm lô x 22.000₫ = 1.110.000₫, N2 viết các số lô T1 đã mua vào mảnh giấy hình chữ nhật để nháp (đã tạm giữ khi lập biên bản sự việc), sau đó tổng hợp vào bảng lô đề. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày T4 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen, gắn sim số thuê bao 0328671170 nhắn tin đến số điện thoại 0865.409.xxx của N1 mua tổng số 240.000đ tiền đề và 10 điểm lô x 22.000đ = 220.000đ, N1 nhắn tin lại “Ok”. Như vậy T4 mua của N1 tổng số 240.000đ tiền đề và tổng số 60 điểm lô x 22.000đ/01 điểm lô = 1.320.000đ. Tổng số tiền T4 mua số lô, số đề của N1 là 1.560.000₫ (T4 chưa trả tiền cho N1). Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng cùng ngày xác định T4 trúng thưởng các số lô gồm 96, 69, 25 mỗi số 10 điểm trong đó số lô 25 về 02 lần (02 nháy) được nhân đôi là 20 điểm, tổng số trúng 40 điểm lô x 80.000đ/01 điểm = 3.200.000₫ (N1 chưa trả tiền cho T4). Như vậy, tổng số tiền T4 và N1 đánh bạc với nhau vào ngày 16/12/2023 là 4.760.000đ. Quá trình điều tra Hà Văn T đã giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen, gắn sim số thuê bao 0328671170 và số tiền 1.560.000₫.

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 16/12/2023 Bùi Đình H2, sinh năm 1965, trú tại khu A, xã T, huyện T, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh gắn sim số thuê bao 0397689051 gọi đến số điện thoại 0865.409.xxx của N1 mua của tổng số 20 điểm lô x 22.500đ/01 điểm = 450.000đ (có file ghi âm nội dung mua bán số lô đề được lưu trong điện thoại Vivo 1915 màu xanh bên trong gắn sim số 0865409987 của N2) H3 chưa trả tiền cho N2. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày xác định H3 trúng thưởng số lô 78 = 10 điểm x 80.000đ/01 điểm = 800.000₫ (N2 chưa trả tiền cho H3). Như vậy, tổng số tiền H3 và N2 đánh bạc với nhau vào ngày 16/12/2023 là 1.250.000đ. Quá trình điều tra H3 đã giao nộp số tiền 450.000đ, đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh gắn sim số thuê bao 0397689051, H3 đã vứt đi (không nhớ vị trí) vì vậy không thu giữ được.

Khoảng 17h20 phút ngày 16/12/2023 Nguyễn Đăng K1, sinh năm 1981, trú tại khu D, xã T, huyện T, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A90 màu xanh-đen, gắn sim số thuê bao 0981582310 gọi đến số điện thoại 0865.409.xxx của N2 mua tổng số 30 điểm lô x 22.500đ/01 điểm = 675.000đ, tổng số điểm lô xiên 3 là 10 điểm x 10.000đ/01 điểm = 100.000đ. Tổng số tiền K1 mua các số lô của N2 là 775.000₫ (K1 chưa trả tiền cho N2). Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày xác định K1 không trúng thưởng số lô nào. Như vậy, tổng số tiền K1 và N2 đánh bạc với nhau vào ngày 16/12/2023 là 775.000đ. Quá trình điều tra K1 đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A90 màu xanh-đen, gắn sim số thuê bao 0981582310 và số tiền 775.000₫.

Khoảng 17 giờ 26 phút, ngày 16/12/2023 Hà Ngọc T2, sinh năm 1972, trú tại khu B, xã T, huyện T, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, gắn sim số thuê bao 0386945905 gọi điện đến số điện thoại 0865.409.xxx của N2 mua tổng số 360.000đ tiền đề và 30 điểm lô x 22.500đ/01 điểm = 675.000₫ (có file ghi âm nội dung mua bán số lô đề được lưu trong điện thoại Vivo 1915 màu xanh bên trong gắn sim số 0865409987 của N2). Tổng số tiền T2 mua số lô, số đề của N2 là 1.035.000₫ (T2 chưa trả tiền cho N2). Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng cùng ngày xác định T2 trúng thưởng số đề 25 = 20.000₫ x 70.000₫ = 1.400.000₫ (N2 chưa trả tiền cho T2). Như vậy, tổng số tiền T2 và N2 đánh bạc với nhau vào ngày 16/12/2023 là 2.435.000đ. Quá trình điều tra Hà Ngọc T2 đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen, gắn sim số 0386945905 và số tiền 1.035.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 28 phút ngày 16/12/2023 Chu Văn L1, sinh năm 1978, trú tại khu B, xã T, huyện T, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen gắn sim số thuê bao 0982596820 gọi đến số điện thoại 0865.409.xxx của N2 mua tổng số 390.000đ tiền đề và 45 điểm lô x 22.500đ/01 điểm = 1.012.500đ (có file ghi âm nội dung mua bán số lô đề được lưu trong điện thoại Vivo 1915 màu xanh bên trong gắn sim số 0865409987 của N2). Tổng số tiền L1 mua các số lô, số đề của N2 là 1.402.500₫, (L1 chưa trả tiền cho N2). Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày xác định L1 trúng thưởng các số lô 90, 33, 09 mỗi số 05 điểm, tổng số điểm lô trúng thưởng là 15 điểm x 80.000đ/1 điểm = 1.200.000₫ (N2 chưa trả tiền cho L2). Như vậy, tổng số tiền L1 và N2 đánh bạc với nhau vào ngày 16/12/2023 là 2.602.500đ. Quá trình điều tra Chu Văn L1 giao nộp số tiền 1.402.500đ, đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen gắn sim số thuê bao 0982596820, L1 đã vứt đi (không nhớ vị trí) vì vậy không thu giữ được.

Khoảng 17 giờ 35 phút ngày 16/12/2023 Hà Văn N3, sinh năm 1968, trú tại khu B, xã T, huyện T, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu xanh, gắn sim thuê bao số 0352554942 gọi đến số điện thoại 0865.409.xxx của N2 mua 20.000đ tiền đề và 58 điểm lô x 22.500đ/01 điểm = 1.305.000₫, (có file ghi âm nội dung mua bán số lô đề được lưu trong điện thoại Vivo 1915 màu xanh bên trong gắn sim số 0865409987 của N2). Tổng số tiền N3 mua các số lô, số đề của N2 là 1.325.000₫ (Nghiệp chưa trả tiền cho N2). Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày xác định N3 trúng thưởng số lô 96 = 5 điểm; các số lô 09, 90, 42, 79 mỗi số 03 điểm. Tổng số điểm lô trúng thưởng là 17 điểm x 80.000đ/1 điểm = 1.360.000₫ (N2 chưa trả tiền cho N3). Như vậy, tổng số tiền N3 và N2 đánh bạc với nhau vào ngày 16/12/2023 là 2.685.000đ. Quá trình điều tra N3 đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu xanh, gắn sim thuê bao số 0352554942 và số tiền 1.325.000đ.

Ngoài hành vi bán số lô, số đề cho những người nêu trên thì trong ngày 16/12/2023 Nông Văn N4 còn bán các số lô, số đề cho một số người không quen biết với tổng số tiền đề là 290.000₫ và tổng số 72 điểm lô x 22.500đ/01 điểm = 1.620.000đ. Tổng số tiền N4 bán số lô, số đề cho những người không quen biết là 1.910.000đ, những người chơi đã trả số tiền này cho N4 (các số lô đề đã bán có thể hiện trong bảng lô đề đã tạm giữ của N4). Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thường cùng ngày xác định các số lô mà những người không quen biết đã mua trúng thưởng là 09 = 5 điểm, 90 = 5 điểm, 88 = 15 điểm, 81 = 3 điểm, 90 = 3 điểm được 02 nháy tổng là 6 điểm. Tổng số điểm lô những người không quen biết đã mua trúng thưởng là 34 điểm x 80.000đ/01 điểm = 2.720.000đ. Tổng số tiền Nông Văn N4 và những người không quen biết đánh bạc với nhau trong ngày 16/12/2023 là 4.630.000₫.

Như vậy tổng số tiền Nông Văn N4 đánh bạc trong ngày 16/12/2023 được xác định là 20.612.500đ. Tổng số tiền N4 đã giao nộp là 15.140.000₫.

Nông Văn N4 khai nhận: vào ngày 14/12/2023, N4 nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức lập bảng số lô, số đề bán cho người chơi để hưởng lợi. Vào khoảng 15 giờ ngày 15/12/2023, anh Hà Quang H4, sinh năm 1987, trú tại phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ một mình đi đến nhà N4 chơi. Quá trình ngồi uống nước nói chuyện thì N4 có hỏi anh H4 về việc có chỗ nào chuyển bảng lô đề thì chuyển hộ N4, thấy vậy H4 bảo N4 chuyển bảng lô đề cho H4. N4 và H4 thống nhất cứ 01 điểm lô H4 tính N4 giá 22.000đ, lô xiên 3 tính giá 9000đ/01 điểm, còn đề thì H4 tính N4 là 75% tổng số tiền đề mà N4 chuyển. Sau đó H4 cầm điện thoại di động của N4, vào tài khoản Zalo của N4 kết bạn với tài khoản Zalo tên “Tien”. N4 và anh H4 thống nhất với nhau chuyển bảng số lô, số đề qua Z và thanh toán tiền vào ngày hôm sau. Đến ngày 16/12/2023, N4 bắt đầu bán số lô, số đề. Sau khi bán các số lô, số đề cho những người tham gia đánh bạc N4 giữ lại một phần, sau đó N4 tự mình đánh thêm các số lô đề và tổng hợp số lô đề của những người mua và số lô đề mình đánh thành bảng lô đề khác và chụp ảnh rồi gửi qua tin nhắn Z cho H4, (N4 đã xé bỏ và đốt bảng lô đề đã gửi), cụ thể: Nông Văn N4 chuyển cho H4 tổng số tiền đề là 1.030.000đ (trong đó có 320.000đ là tiền đề N4 tự mình đánh); tổng số 230 điểm lô x 22.000đ/01 điểm = 5.060.000đ (trong đó có 65 điểm lô N4 tự mình đánh); tổng số điểm lô xiên 3 là 10 điểm x 9.000đ/01 điểm = 90.000đ. Tổng số tiền N4 khai nhận chuyển các số lô, số đề cho H4 là 6.180.000đ. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, bảng lô đề N4 chuyển cho H4 trúng thưởng tổng số 75 điểm lô x 80.000đ/01 điểm = 6.000.000đ (trong đó có 1.200.000đ là tiền trúng thưởng của N4). Tổng số tiền N4 khai nhận đã chuyển bảng lô đề cho H4 và tiền trúng thưởng trong ngày 16/12/2023 là 12.180.000 đồng. Ngoài việc chuyển bảng lô đề cho H4 như đã nêu trên thì N4 đã giữ lại để ôm một số số lô, số đề cụ thể: tổng số tiền đề là 590.000đ; tổng số tiền lô là 4.040.000đ. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng cùng ngày xác định tổng số tiền đề trúng thưởng là 1.400.000đ. Tổng số tiền lô trúng thưởng là 5.280.000đ. Như vậy tổng số tiền lô đề mà N4 khai nhận đã giữ lại để ôm và tiền trúng thưởng là 11.310.000đ.

Căn cứ lời khai của Nông Văn N4, Cơ quan Công an huyện T, đã làm việc với anh Hà Quang H4, sinh năm 1987, trú tại phường H, thị xã P, và tiến hành đối chất giữa Nông Văn N4 và Hà Quang H4. Quá trình làm việc với CQĐT và tiến hành đối chất thì anh H4 không thừa nhận có nhận bảng lô đề của N4 như N4 đã khai báo với CQĐT. Anh H4 khai nhận có quen biết N4 và thỉnh thoảng có liên lạc với N4 từ số điện thoại 0976.011.xxx để hỏi thăm nhau, bản thân anh H4 chỉ sử dụng duy nhất số điện thoại này. Tài khoản Zalo của anh H4 là “Q” được đăng ký bằng số điện thoại 0976.011.xxx, bản thân anh H4 không sử dụng tài khoản Zalo nào có tên là “Tien”. Kiểm tra điện thoại của H4 không phát hiện nội dung gì liên quan đến việc đánh bạc nên CQĐT không tiến hành tạm giữ. Quá trình kiểm tra điện thoại của N4 tại ứng dụng Zalo thể hiện việc N4 gửi hình ảnh bảng lô đề mà N4 đã chụp lại gửi cho tài khoản Z có tên là “T3” và tài khoản Zalo này có nhắn lại cho N4 là “1” nhưng không có căn cứ nào xác định tài khoản Z có tên “Tien” là của H4, mặt khác ngoài lời khai của Nông Văn N4 thì không có bất kỳ tài liệu nào chứng minh việc N4 đã chuyển bảng lô đề cho H4.

Về các vật chứng của vụ án:

  • - Đối với: 01 tờ giấy vở kẻ ngang, nhãn hiệu “Hong Ha", kích thước (25x17,5) cm, một mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, tại vị trí góc phải trên cùng của một mặt có ghi “16/12”. Đây là bảng lô đề do Nông Văn N4 tự mình tổng hợp để theo dõi và làm căn cứ tính thắng thua; 01 mảnh giấy, màu trắng, kích thước (6,2 x 9,3)cm, một mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, ký hiệu trên cùng có ghi “96-10”. Đây là mảnh giấy nháp ghi lại các số lô mà Nông Văn N4 đã bán cho Hà Văn T4. Các vật chứng nêu trên đều tạm giữ của Nông Văn N4 và được lưu trong hồ sơ làm căn cứ giải quyết vụ án.
  • - Đối với: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo 1915, màu xanh, điện thoại gắn sim số thuê bao 0865409987 và 01 chiếc bút bi, nhãn hiệu “Matixs FO-024", màu xanh-bạc, mực màu xanh (tạm giữ của Nông Văn N4); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen gắn sim số thuê bao 0386945905 (tạm giữ của Hà Ngọc T2); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu xanh, gắn sim số thuê bao 0352554942 (tạm giữ của Hà Văn N3); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen gắn sim số thuê bao 0328671170 (tạm giữ của Hà Văn T4); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A90 màu xanh-đen gắn sim số thuê bao 0981582310 (tạm giữ của Nguyễn Đăng K1). Đây là các công cụ, phương tiện mà bị can và những người có liên quan sử dụng vào việc đánh bạc.
  • - Đối với số tiền 22.362.500đ, trong đó có: số tiền 15.140.000₫ (tạm giữ của Nông Văn N4); số tiền 450.000đ (tạm giữ của Bùi Đình H5); số tiền 1.402.500₫ (tạm giữ của Chu Văn L1); số tiền 1.035.000₫ (tạm giữ của Hà Ngọc T2); số tiền 1.325.000₫ (tạm giữ của Hà Văn N3); số tiền 1.560.000đ (tạm giữ của Hà Văn T4); số tiền 775.000đ (tạm giữ của Nguyễn Đăng K1); số tiền 675.000₫ (tạm giữ của Triệu Văn H6). Đây là số tiền mà bị cáo và những người liên quan sử dụng để đánh bạc.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen, bộ nhớ 128GB gắn 02 sim số 0877929329 và 0376810412. Đây là điện thoại của Nông Văn N4 sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến việc đánh bạc và vi phạm pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKSTB ngày 26 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba truy tố bị cáo Nông Văn N4 về tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nông Văn N4 từ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS; Khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật TTHS:
    • + Đối với: 01 tờ giấy vở kẻ ngang, nhãn hiệu “Hong Ha”, kích thước (25x17,5) cm, một mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, tại vị trí góc phải trên cùng của một mặt có ghi “16/12”, là bảng lô đề do Nông Văn N4 tự mình tổng hợp để theo dõi và làm căn cứ tính thắng thua; 01 mảnh giấy, màu trắng, kích thước (6,2 x 9,3) cm, một mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, ký hiệu trên cùng có ghi “96-10”, là mảnh giấy nháp ghi lại các số lô mà Nông Văn N4 đã bán cho Hà Văn T4. Đây là các vật chứng của vụ án nên cần được lưu trong hồ sơ.
    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc bút bi, nhãn hiệu “Matixs FO-024”, màu xanh-bạc, mực màu xanh và sim số thuê bao 0865409987 của bị cáo Nông Văn N4; sim số thuê bao 0386945905 của Hà Ngọc T2; sim số thuê bao 0352554942 của Hà Văn N3; sim số thuê bao 0328671170 của Hà Văn T4; sim số thuê bao 0981582310 của Nguyễn Đăng K1.

(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba và giấy nộp tiền ngày 02/5/2024 tại Ngân hàng N5 – Chi nhánh huyện T)

+ Về án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều nhất trí và không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng của vụ án và các tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
    • Ngày 16/12/2023 tại khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Nông Văn N4 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho ông Hà Văn N3, ông Triệu Văn H6, anh Nguyễn Đăng K1, ông Hà Văn T4, anh Hà Ngọc T2, anh Chu Văn L1, ông Bùi Đình H5 và cho một số người không quen biết với tổng số tiền bán số lô, số đề cho những người chơi và tiền tiền trúng thường là 20.612.500₫ (Hai mươi triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm đồng).
    • Đồng thời, bị cáo Nông Văn N4 chưa được xoá án tích đối với bản án số 23/2021/HSST ngày 31/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nông Văn N4 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” và đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” tại bản án này. Như vậy, đối với lần phạm tội này Nông Văn N4 bị áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm”, tuy nhiên đây là tình tiết định khung hình phạt nên Nông Văn N4 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
    • Do đó, Nông Văn N4 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
    • Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo nhận thức được hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nên bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết bị cáo Nông Văn N4 phạm tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
    • Điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:
      1. 1...
      2. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
        1. a)...
        2. d) Tái phạm nguy hiểm."
    • Nông Văn N4 khai nhận đứng ra làm thư ký để thực hiện hành vi bán số lô đề cho người chơi và tiền trúng thưởng với tổng số tiền trên 20.000.000₫ sau đó chuyển bảng lô đề cho chủ lô đề để hưởng tiền chênh lệch là hành vi tổ chức đánh bạc, tuy nhiên quá trình điều tra không có căn cứ để xác định việc Nông Văn N4 có chuyển bảng lô đề cho Hà Quang H4 theo như N4 đã khai nhận, mặt khác số tiền Nông Văn N4 khai nhận đã chuyển bảng lô đề và số tiền trúng thưởng dưới 20.000.000đ, vì vậy chỉ có căn cứ xử lý Nông Văn N4 về tội đánh bạc.
    • Đối với Hà Văn N3, Triệu Văn H6, Nguyễn Đăng K1, Hà Văn T4, Hà Ngọc T2, Chu Văn L1 và Bùi Đình H5 đã thực hiện hành vi đánh bạc với Nông Văn N4, tuy nhiên số tiền sử dụng để đánh bạc và tiền trúng thưởng đều dưới 5.000.000 đồng, nhân thân đều không có tiền án, tiền sự về hành vi Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc. Vì vậy, Cơ quan Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người nêu trên là phù hợp.
    • [3] Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, làm mất ổn định an ninh trật tự địa phương. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
    • [4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
      • Xét thấy, bị cáo Nông Văn N4 đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” tại Bản án số 23/2021/HSST ngày 31/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ, chưa được xoá án tích đối với bản án này. Do vậy, lần phạm tội này bị cáo N4 bị áp dụng tình tiết “Tái phạm nguy hiểm”, tuy nhiên đây là tình tiết định khung tăng nặng nên bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ là ông Nông Văn H7 là thương binh; Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc; xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; xử phạt 08 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chứng tỏ bị cáo không tôn trọng pháp luật, vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn N4 từ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù là phù hợp.
    • [5] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy, bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
    • [6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS; Khoản 1, 2, 3 Điều 106 BLTTHS:
      • - Đối với: 01 tờ giấy vở kẻ ngang, nhãn hiệu “Hong Ha", kích thước (25x17,5) cm, một mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, tại vị trí góc phải trên cùng của một mặt có ghi “16/12”, là bảng lô đề do Nông Văn N4 tự mình tổng hợp để theo dõi và làm căn cứ tính thắng thua; 01 mảnh giấy, màu trắng, kích thước (6,2 x 9,3)cm, một mặt có ghi các chữ, số, ký hiệu bằng mực màu xanh, ký hiệu trên cùng có ghi “96-10”, là mảnh giấy nháp ghi lại các số lô mà Nông Văn N4 đã bán cho Hà Văn T4. Đây là các vật chứng của vụ án nên cần được lưu trong hồ sơ.
      • + Đối với: 01 chiếc bút bi, nhãn hiệu “Matixs FO-024", màu xanh-bạc, mực màu xanh và sim số thuê bao 0865409987 của bị cáo Nông Văn N4; sim số thuê bao 0386945905 của Hà Ngọc T2; sim số thuê bao 0352554942 của Hà Văn N3; sim số thuê bao 0328671170 của Hà Văn T4; sim số thuê bao 0981582310 của Nguyễn Đăng K1 đều sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
      • + Đối với: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo 1915, màu xanh, bộ nhớ 128 GB, số IMEI 1: 868797043296773, số IME 2: 868797043296765 của bị cáo Nông Văn N4; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen sô Seri: 354275385598776 của Hà Ngọc T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, màu xanh số IMEI: 3536980204453 của Hà Văn N3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen, số Seri 1: 35413863461189, số seri 2: 354138635961188 của Hà Văn T4; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A90 màu xanh-đen s ố IMEI 1: 866967043038051, số IME2: 866967043038044 của Nguyễn Đăng K1 đều đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu ngân sách Nhà nước.
      • + Đối với: số tiền 15.140.000₫ (Mười lăm triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Nông Văn N4, trong đó có số tiền 13.390.000₫ (Mười ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) bị cáo N4 sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 675.000₫ (Sáu trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) của Triệu Văn H6, số tiền 1.560.000đ (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) của Hà Văn T4; số tiền 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) của Bùi Đình H5; số tiền 775.000₫ (Bẩy trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) của Trần Đăng K2; số tiền 1.402.500đ (Một triệu bốn trăm linh hai nghìn năm trăm đồng) của Chu Văn L1; số tiền 1.035.000đ (Một triệu không trăm ba mươi lăm nghìn đồng) của Hà Ngọc T2; số tiền 1.325.000đ (Một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) của Hà Văn N3 đều sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu ngân sách Nhà nước.
      • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen, bộ nhớ 128GB gắn 02 sim số 0877929329 và 0376810412 của bị cáo Nông Văn N4 không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo N4; Trả lại cho bị cáo N4 số tiền là 1.750.000đ (Một triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

      (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba và giấy nộp tiền ngày 02/5/2024 tại Ngân hàng N5 – Chi nhánh huyện T)

[7] Đới với anh Hà Quang H4, sinh năm 1987, trú tại phường H, thị xã P. Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nông Văn N4, Cơ quan Công an huyện T đã lấy lời khai và tiến hành đối chất thì anh H4 không thừa nhận có nhận bảng lô đề của N4 như N4 đã khai. Anh H4 khai nhận có quen biết N4 và thỉnh thoảng có liên lạc với N4 từ số điện thoại 0976.011.xxx để hỏi thăm nhau, bản thân anh H4 chỉ sử dụng duy nhất số điện thoại này. Tài khoản Zalo của anh H4 là “Q” được đăng ký bằng số điện thoại 0976.011.xxx, bản thân anh H4 không sử dụng tài khoản Zalo nào có tên là “Tien”. Kiểm tra điện thoại của H4 không phát hiện nội dung gì liên quan đến việc đánh bạc nên CQĐT không tiến hành tạm giữ. Quá trình kiểm tra điện thoại của N4 tại ứng dụng Zalo thể hiện việc N4 gửi hình ảnh bảng lô đề mà N4 đã chụp lại gửi cho tài khoản Z có tên là “T3” và tài khoản Zalo này có nhắn lại cho N4 là “1” nhưng không có căn cứ nào xác định tài khoản Z có tên “Tien” là của H4, mặt khác ngoài lời khai của Nông Văn N4 thì không có bất kỳ tài liệu nào chứng minh việc N4 đã chuyển bảng lô đề cho H4. Vì vậy, Cơ quan Công an huyện T không có căn cứ xử lý hình sự đối với H4.

[8] Về án phí: Bị cáo Nông Văn N4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn N4.
  2. Tuyên bố bị cáo Nông Văn N4 phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Xử phạt bị cáo Nông Văn Ninh 3 (Ba mươi sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 BLHS; khoản 1, 2, 3 Điều 106 BLTTHS:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi, nhãn hiệu “Matixs FO-024", màu xanh-bạc, mực màu xanh và sim số thuê bao 0865409987 của bị cáo Nông Văn N4; sim số thuê bao 0386945905 của Hà Ngọc T2; sim số thuê bao 0352554942 của Hà Văn N3; sim số thuê bao 0328671170 của Hà Văn T4; sim số thuê bao 0981582310 của Nguyễn Đăng K1.
    • + Tịch thu ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo 1915, màu xanh, bộ nhớ 128 GB, số IMEI 1: 868797043296773, số IME 2: 868797043296765 của bị cáo Nông Văn N4; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen sô Seri: 354275385598776 của Hà Ngọc T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1280, mà u xanh s ố IMEI: 3536980204453 của Hà Văn N3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 150, màu đen, số Seri 1: 35413863461189, số seri 2: 354138635961188 của Hà Văn T4; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A90 màu xanh-đen số IMEI 1: 866967043038051, số IME2: 866967043038044 của Nguyễn Đăng K1.
    • + Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 13.390.000₫ (Mười ba triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng) bị cáo Nông Văn N4; số tiền 675.000₫ (Sáu trăm bầy mươi lăm nghìn đồng) của Triệu Văn H6; số tiền 1.560.000đ (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) của Hà Văn T4; số tiền 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) của Bùi Đình H5; số tiền 775.000₫ (Bẩy trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) của Trần Đăng K2; số tiền 1.402.500đ (Một triệu bốn trăm linh hai nghìn năm trăm đồng) của Chu Văn L1; số tiền 1.035.000đ (Một triệu không trăm ba mươi lăm nghìn đồng) của Hà Ngọc T2; số tiền 1.325.000đ (Một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) của Hà Văn N3.
    • + Trả lại cho bị cáo Nông Văn N4 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen, bộ nhớ 128GB gắn 02 sim số 0877929329 và 0376810412; Trả lại cho bị cáo N4 số tiền là 1.750.000đ (Một triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba và giấy nộp tiền ngày 02/5/2024 tại Ngân hàng N5 – Chi nhánh huyện T).

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nông Văn N4 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Thanh Ba;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Ba;
  • - Công an huyện Thanh Ba;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Trần Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ về tội đánh bạc

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh back
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger