Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/DSST

Ngày 10-7-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Đức Trí
  2. Bà Nguyễn Thị Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/20124/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT; địa chỉ trụ sở: số 266-268, đường N, phường S, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạnh D - Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn S - Giám đốc Chi nhánh Quảng Nam. Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Huỳnh Viết T - Phó giám đốc chi nhánh Quảng Nam ký văn bản tố tụng và ông Phạm Ngọc T - Chuyên viên quản lý nợ - Chi nhánh Quảng Nam tham gia tố tụng; địa chỉ: Lô 8, Khu T, phường T, thành phố K, tỉnh Quảng Nam. Ông T có mặt.
  2. Bị đơn: bà Huỳnh Thị Trà M, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Bà M vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Phạm Ngọc T trình bày:

Bà Huỳnh Thị Trà M có ký với Ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh Quảng Nam hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, số thẻ tín dụng 970403-5105 với hạn mức 20.000.000 đồng ngày 25/6/2021, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp tín dụng, bà M đã sử dụng với tổng số tiền cụ thể như sau: Tính đến ngày 15/4/2023, tổng số tiền giao dịch bà M đã sử dụng tại thẻ là 28.210.000 đồng; quá trình sử dụng thẻ bà M đã thanh toán tổng số tiền gồm lãi và các loại phí là 16.960.948 đồng. Sau một thời gian sử dụng thẻ, bà M đã không hợp tác thanh toán cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà M vẫn không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng chốt lại số nợ gốc của bà M là 20.000.000 đồng mặc dù số tiền nợ cộng với lãi và phí vượt hơn 20.000.000 đồng, và đến ngày 15/7/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ tiền vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến hết ngày 09/7/2024 bà M còn nợ Ngân hàng tiền gốc 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng, nợ lãi trong hạn 1.594.666 (Một triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng, nợ lãi quá hạn 9.204.000 (Chín triệu hai trăm lẻ bốn nghìn) đồng; tổng cộng số tiền bà M còn nợ Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm (hết ngày 09/7/2024) là 30.798.666 (Ba mươi triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng. Do đó, Ngân hàng TMCP SGTT yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M phải thanh toán hết số nợ nêu trên cho Ngân hàng và thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ theo hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng.

- Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Trà M: Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải. Tuy nhiên, bà M không đến Toà án làm việc, cố tình trốn tránh nên Toà án không thể tiến hành lấy lời khai. Trong quá trình giải quyết vụ án, qua xác minh bà M không có mặt tại địa phương, bà M cũng không có ý kiến hay lời khai gì liên quan đến nội dung vụ án. Vì vậy, Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đầy đủ theo trình tự thủ tục các bước tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn TMCP SGTT – Chi nhánh Quảng Nam, buộc bà Huỳnh Thị Trà M phải trả cho Ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh Quảng Nam tiền gốc và lãi theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về nội dung vụ án:

[1.1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh Quảng Nam khởi kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị Trà M trả tiền nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Huỳnh Thị Trà M có nơi cư trú tại xã A, huyện P, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Huỳnh Thị Trà M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[1.2] Về nội dung:

Theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/6/2021 đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP SGTT với bà Huỳnh Thị Trà M, thê hiện bà M sử dụng thẻ tín dụng, hạn mức 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Xét hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 25/6/2021 ký kết giữa Ngân hàng và bà Huỳnh Thị Trà M đảm bảo về hình thức, nội dung, điều kiện có hiệu lực được quy định tại các Điều 385, 398, 401, 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên phát sinh hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đã thỏa thuận trong hợp đồng. Quá trình sử dụng thẻ, bà M đã nhiều lần thực hiện giao dịch tính đến ngày 15/4/2023 với tổng số tiền sử dụng là 28.210.000 đồng, nhưng bà M mới thanh toán tổng số tiền gồm lãi và các loại phí là 16.960.948 đồng, sau đó bà M không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhắc nhở nhưng bà M vẫn không tiếp tục thanh toán. Do bà M vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo quy định tại mục 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên Ngân hàng chốt lại số nợ gốc của bà M là 20.000.000 đồng và đến ngày 15/7/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà M, chuyển toàn bộ dư nợ tiền gốc sang nợ quá hạn (theo quy định tại mục 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng). Theo tóm tắt sao kê của Ngân hàng thể hiện, số tiền lãi phát sinh tính đến hết ngày 09/7/2024 là 10.798.666 đồng (trong đó: nợ lãi trong hạn là 1.594.666 đồng, lãi quá hạn là 9.204.000 đồng) và nợ gốc 20.000.000 đồng bà M chưa thanh toán.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn bà M đến để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời đối chiếu khoản nợ nhưng bà M đều vắng mặt không có lý do, bà M cũng không nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng về khoản nợ vay nêu trên.

Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì nội dung tình tiết của nguyên đơn đưa ra được chấp nhận mà không cần phải chứng minh do bị đơn đã không đưa ra chứng cứ chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Ngân hàng TMCP SGTT yêu cầu bà M trả nợ vay tính đến hết ngày 09/7/2024 là 30.798.666 đồng (trong đó: nợ gốc 20.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 1.594.666 đồng, nợ lãi quá hạn 9.204.000 đồng) là có căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng.

[2] Về án phí:

Theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bà Huỳnh Thị Trà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 401, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP SGTT, buộc bà Huỳnh Thị Trà M có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh Quảng Nam số tiền là 30.798.666 (Ba mươi triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng, trong đó: nợ gốc là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng, nợ lãi trong hạn là 1.594.666 (Một triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng, nợ lãi quá hạn là 9.204.000 (Chín triệu hai trăm lẻ bốn nghìn) đồng (tính đến hết ngày 09/7/2024).

Kể từ ngày 10 tháng 7 năm 2024, bà Huỳnh Thị Trà M còn phải tiếp tục chịu tiền lãi đối với số tiền gốc còn nợ, theo mức lãi suất quy định đối với thẻ tín dụng mở theo hợp đồng tín dụng ngày 25/6/2021 đã ký kết giữa Ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh Quảng Nam và bà Huỳnh Thị Trà M, cho đến khi bà M thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

* Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Huỳnh Thị Trà M phải chịu 1.539.900 (Một triệu năm trăm ba mươi chín nghìn chín trăm) đồng.

Ngân hàng TMCP SGTT – Chi nhánh Quảng Nam được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 658.000 (Sáu trăm năm mươi tám nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017807 ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P, tỉnh Quảng Nam.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/7/2024); bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện P;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Thị Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/DSST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 35/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng khởi kiện khoản nợ thẻ tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger