|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HNGĐ - ST
Ngày 10 tháng 6 năm 2024
V/v: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trường Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Sơn
Bà Hoàng Thảo Yến
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Quốc Huy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 125/2023/TLST- HNGĐ ngày 25/12/2023 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1956. Có mặt
HKTT: Số nhà A, T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Trú tại: Số A, đường N, khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1959. Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt.
HKTT: Số nhà A, T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn trình bày:
- Quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn C với bà Ngô Thị T có tổ chức lễ kết hôn từ khoảng tháng 2 năm 1982. Khi đó ông C, bà T có thông báo việc kết hôn với cán bộ chủ tịch UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, ông bà không trực tiếp lên đăng ký kết hôn tại UBND xã và nay không có giấy đăng ký kết hôn. Trong thời gian từ năm 1982 đến nay vợ chồng ông C, bà T vẫn duy trì mối quan hệ hôn nhân và không có quan hệ kết hôn với bất kỳ người nào khác.
Sau khi làm lễ thành hôn, vợ chồng ông bà sống cùng nhau tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng năm 1989, vợ chồng chuyển đến sinh sống tại đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hòa thuận hạnh phúc. Đến khoảng năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do nhiều lý do và do bất đồng quan điểm sống giữa hai vợ chồng. Gia đình hai bên có biết về mâu thuẫn của vợ chồng ông Trần Văn C bà Ngô Thị T, đã hòa giải nhưng không hòa giải được.
Từ năm 2000, vợ chồng ông Trần Văn C, bà Ngô Thị T sống cùng nhà nhưng không còn tình cảm. Đến năm 2009, vợ chồng chuyển ra ở riêng. Ông Trần Văn C chuyển đến ở khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vợ chồng ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân, do mâu thuẫn vợ chồng ông Trần Văn C đã làm đơn xin ly hôn gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xin ly hôn với bà T. Tuy nhiên, sau khi được Tòa án hòa giải và giải thích ông Trần Văn C đã rút đơn ly hôn để hòa giải đoàn tụ và Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Nay thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống hôn nhân không thể duy trì nên đề nghị Tòa án cho ông Trần Văn C được ly hôn với bà Ngô Thị T.
- Về con chung: Thời gian chung sống ông Trần Văn C và bà Ngô Thị T có 02 người con chung là anh Trần Cao T1, sinh năm 1982 và anh Trần Mạnh D, sinh năm 1997. Nay cả hai con chung đều trưởng thành nên ông Trần Văn C không đề nghị tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: ông Trần Văn C không đề nghị tòa án giải quyết
- Về tài sản chung: ông Trần Văn C không đề nghị tòa án giải quyết
Tại lời khai trong hồ sơ bị đơn trình bày:
- Quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T với ông Trần Văn C có tổ chức lễ kết hôn từ khoảng tháng 2 năm 1982. Khi đó, bà Ngô Thị T và ông Trần Văn C có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên ông bà không cầm giấy đăng ký kết hôn về. Nay ông bà không có giấy đăng ký kết hôn.
Sau kết hôn, vợ chồng sống cùng nhau tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng năm 1989, vợ chồng chuyển đến sinh sống tại số A đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hòa thuận hạnh phúc. Đến khoảng năm 1990 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T là do ông C không đóng góp công sức nuôi con chung từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn không thể hòa giải. Gia đình hai bên có biết về mâu thuẫn của ông bà nhưng không hòa giải được.
Nay vợ chồng ông bà sống ly thân. Từ năm 2009, ông C chuyển đến ở riêng tại khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình sinh sống bà Ngô Thị T có đến chăm nom ông C nhưng có xảy ra việc cãi nhau nên bà Ngô Thị T không ở cùng ông C. Nay bà Ngô Thị T thấy vợ chồng không còn tình cảm nên bà Ngô Thị T đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Văn C.
- Về con chung: Vợ chồng ông Trần Văn C, bà Ngô Thị T có 02 người con chung là anh Trần Cao T1, sinh năm 1982 và anh Trần Mạnh D, sinh năm 1997. Nay cả hai con chung đều trưởng thành nên bà Ngô Thị T không đề nghị tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bị đơn là bà Ngô Thị T có kê khai vợ chồng còn một số tài sản chung sau:
- + 01 căn nhà 02 tầng lợp tôn chống nóng có diện tích xây dựng là 90m² xây dựng năm 2009 tại khu đất ở số A, đường N, khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- + 01 giường đôi gỗ gõ giá trị khoảng 15.000.000 đồng.
- + 01 giường gỗ xoan đào giá 4.000.000 đồng.
- + 01 tủ gỗ đựng quần áo 4 buồng giá 20.000.000 đồng.
- + 01 tủ lạnh giá 5.000.000 đồng.
- + 01 máy tập thể dục giá 10.000.000 đồng
- + 01 giường mát xa giá 70.000.000 đồng
- + 01 bộ bàn ghế Minh Quốc gỗ Gụ trị giá 70.000.000 đồng.
- + 01 kệ ti vi bằng gỗ trị giá 20.000.000 đồng.
- + 01 tủ bếp trị giá 15.000.000 đồng.
- + 01 bàn ăn trị giá 4.000.000 đồng.
- + 01 gương viền gỗ gụ trị giá 10.000.000 đồng.
- + 01 xe đạp thể thao trị giá 4.000.000 đồng.
- + 01 xe ô tô Mitsubishi BKS 99A-100.23 vợ chồng bà Ngô Thị T mua lại chưa sang tên đổi chủ trị giá 280.000.000 đồng.
- + 01 xe máy Honda Air-Blade trị giá 27.000.000 đồng.
- + 01 bộ loa đài gồm 02 loa, 01 âm ly có giá 7.000.000 đồng.
Các tài sản trên hiện được để tại số nhà A, đường N
Về công nợ chung: Theo bà T trình bày, vợ chồng ông bà có vay của con chung là Trần Cao T1 số tiền 80.000.000 đồng để mua xe ô tô BKS 99A-100.23.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Ngô Thị T có đơn yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và được tòa án thụ lý giải quyết theo thông báo thụ lý yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân số 125A/TB-TLVA ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh. Ngày 23/5/2024, Bà Ngô Thị T có đơn xin rút yêu cầu chia tài sản chung gửi đến tòa án.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh cho ông Trần Văn C được ly hôn với bà Ngô Thị T.
Về con chung: Do các con chung đã trưởng thành nên ông Trần Văn C không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Ông Trần Văn C không đề nghị tòa án giải quyết.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn trình bày: Về nội dung vụ án, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và các lời khai trước đây; con chung: các con đã trưởng thành nên không đề nghị; về tài sản chung: Bị đơn đề nghị tòa án đình chỉ giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông C bà T tự nguyện tìm hiểu và tổ chức lễ kết hôn vào tháng 02 năm 1982 tại xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng không đi đăng ký tại UBND xã. Từ thời điểm đó đến nay, ông bà xác nhận vẫn duy trì mối quan hệ hôn nhân và không đăng ký kết hôn với ai. Như vậy, cần công nhận hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
- Xét yêu cầu xin ly hôn, cả ông C, bà T đều thấy rằng mối quan hệ vợ chồng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài và đồng ý ly hôn. Vậy đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông C.
- - Về con chung: Ông C, bà T có 02 con chung là Trần Cao T1, sinh năm 1982 và Trần Mạnh D, sinh năm 1997. Do cả hai con đã trưởng thành nên ông C, bà T không yêu cầu xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung, công nợ chung: đề nghị tòa án đình chỉ giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- - Về án phí: ông Trần Văn C phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo nội dung vụ án, đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn là bà Ngô Thị T có hộ khẩu thường trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại Điều 28 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn là bà Ngô Thị T vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn C và bà Ngô Thị T có tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện tổ chức lễ kết hôn vào khoảng tháng 2 năm 1982. Theo lời khai, ông bà có thông báo việc kết hôn đến UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng không có giấy đăng ký kết hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng, việc kết hôn của ông bà được thực hiện trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, việc kết hôn trên là tự nguyện, không ai ép buộc. Ông C, bà T cũng đã chung sống với nhau từ năm 1982 đến nay mà không kết hôn với người khác. Như vậy, cần công nhận ông Trần Văn C, bà Ngô Thị T có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp từ tháng 2 năm 1982 đến nay.
Cuộc sống vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Sau đó khoảng năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn được xác định do giữa hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng ông C, bà T ly thân từ năm 2009 đến nay. Trong thời gian ly thân ông C đã nhiều lần làm đơn xin ly hôn và được khuyên bảo để rút đơn đoàn tụ. Tuy nhiên, vợ chồng vẫn không thể chung sống. Tại lời khai, cả ông C, bà T đều nhận định không thể kéo dài hôn nhân và đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân của ông Trần Văn C, bà Ngô Thị T đã có những mâu thuẫn trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, ông Trần Văn C được ly hôn bà Ngô Thị T
[2] Về con chung: Ông Trần Văn C và bà Ngô Thị T thống nhất có 02 người con chung là anh Trần Cao T1, sinh năm 1982 và anh Trần Mạnh D, sinh năm 1997. Nay cả hai con chung đều trưởng thành nên tôi không đề nghị tòa án giải quyết.
[3] Về tài sản, công nợ: Quá trình giải quyết vụ án bà Ngô Thị T có đơn yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và được Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý giải quyết bằng thông báo thụ lý số 125A/TB-TLVA ngày 01/3/2024. Ngày 23/5/2024, bà Ngô Thị T có đơn xin rút yêu cầu chia tài sản chung. Ông Trần Văn C không đề nghị giải quyết việc chia tài sản chung. Vậy cần đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án.
[4] Về án phí miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho ông Trần Văn C
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 244, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo; Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn C được ly hôn với bà Ngô Thị T
- Về con chung: Không xem xét giải quyết
- Về tài sản, công nợ: Đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo thông báo về việc thụ lý yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân số 125A/TB-TLVA ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Đương sự có quyền khởi kiện vụ án “Yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”
- Về án phí dân sự: Miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho ông Trần Văn C
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Trường Trung |
|
THÀNH VIÊN HĐXX |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Phạm Trường Trung |
Bản án số 35/2024/HNGĐ - ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
