|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 35/2024/HSST Ngày 10-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Cang
Ông Vũ Công Sế
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 18/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐ-HPT ngày 11-4-2024, đối với bị cáo:
Bùi Tấn T (Thành M), sinh năm 1995 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; HKTT: số 1216/31/3 đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chổ ở: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Cha (không rõ); Mẹ: Bùi Thị M1, sinh năm 1971; Tiền sự: không.
Tiền án: Bản án số 172/2017/HSST ngày 07/09/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị can đã chấp hành xong hình phạt ngày 17/5/2022.
Bị bắt ngày 25/10/2023 (có mặt).
- Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Văn C – Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Trường V, sinh năm 2001. Địa chỉ: thôn Đ, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
- Ông Phạm Quốc C1, sinh năm 1998. Địa chỉ: C C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút, ngày 25/10/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát hiện, bắt quả tang Bùi Tấn T đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực Thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 80 viên nén màu xanh dương không rõ hình dạng; 01 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt; 01 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt (Mẫu A1, A2, A3) để trong hộp giấy màu vàng thu giữ trên xe máy của T;
- - 20 viên nén màu xanh dương không rõ hình dạng; 03 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu- trong suốt (Mẫu A, A5), để trong túi nylon đen thu giữ trên gác- ba- ga xe máy của T;
- - 01 xe gắn máy hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát số 72F1-90891, số khung: RLHJA3926NY256207; số máy: JA39E2753122;
- - 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen bị nứt màn hình, số IMEI: 355352043617253 và 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu vàng, bị nứt màn hình và vỡ mặt lưng, số IMEI: 353896103533299.
Quá trình điều tra T khai nhận: Thông qua mối quan hệ xã hội, T có quen biết người tên B (không rõ họ tên, địa chỉ, sống tại TP .) bán ma túy. Do bản thân có sử dụng ma túy dạng khay và thuốc lắc nên T đồng ý đi giao (bán) ma túy cho B để nhận tiền công 7.000.000 đồng; việc thỏa thuận mua bán về khối lượng ma túy, giá cả thì Bi trao đổi với khách, T không biết. Ngày 24/10/2023, B liên hệ và yêu cầu T đến lấy ma túy là 01 gói ma túy khay và 100 viên thuốc lắc về giao (bán) cho người tên H (không rõ họ tên, địa chỉ, nhà ở khu vực huyện C) với giá 77.000.000 đồng. Sau đó, T đi đến khu vực gần sân bay T, thành phố Hồ Chí Minh nhận số lượng ma túy như nêu trên, B nói sẽ trả công cho T 7.000.000đ, còn lại 70.000.000 đồng thì T đưa về TP . đưa lại cho B. T đưa ma túy về cất giấu tại chỗ ở. Đến 16 giờ ngày 25/10/2023,T đi mua 01 gói đường phèn với giá 20.000 đồng về mục đích trộn vào ma túy đưa đi bán để tăng khối lượng. Sau đó, T lấy gói ma túy khay chia thành 04 gói nhỏ và 01 gói lớn và lấy gói đường phèn trộn vào gói ma túy khay lớn. Tiếp đó, T chia 80 viên thuốc lắc, 01 gói ma túy khay lớn và 01 gói ma túy khay nhỏ bỏ vào hộp giấy màu vàng bên ngoài bọc túi nylon màu đen để bán cho H; các gói nylon còn lại (03 gói ma túy nhỏ và 20 viên thuốc lắc) T bỏ vào túi ny lon màu đen rồi để trên gác ba ga xe máy biển số 72F1 - 908.91, mục đích cất giấu để sử dụng dần và bán lại cho người khác. Khi T đang đứng tại điểm hẹn để bán ma túy cho H nhưng chưa kịp bán thì bị Công an đến bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 454/KL-KTHS-MT ngày 31/10/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B kết luận:
- “- Mẫu A1 là ma túy, loại MDMA, khối lượng 31,9924 gam.
- - Mẫu A2 là ma túy, loại Ketamin, khối lượng 41,2776 gam.
- - Mẫu A3 là ma túy, loại Ketamin, khối lượng 50,8459 gam
- - Mẫu A4 là ma túy, loại MDMA, khối lượng 8,0493 gam.
- - Mẫu A4 là ma túy, loại Ketamin, khối lượng 17,1374 gam”.
Vật chứng thu giữ của vụ án gồm:
- - 05 (năm) phong bì được niêm phong vụ số 454/1, 454/2, 454/3, 454/4, 454/5 ngày 31/10/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B (là các phong bì chứa ma túy còn lại sau giám định).
- - 01 xe gắn máy hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát số 72F1-90891, số khung: RLHJA3926NY256207; số máy: JA39E2753122;
- - 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen bị nứt màn hình, số IMEI: 355352043617253;
- - 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu vàng, bị nứt màn hình và vỡ mặt lưng, số IMEI: 353896103533299.
Các vật chứng nêu trên được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản chờ xử lý.
Đối với người đàn ông tên B đưa 01 gói ma túy khay và 100 viên thuốc lắc cho T đi bán và người đàn ông tên H mua ma túy của T, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định.
Đối với 01 xe gắn máy hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát số 72F1-90891, số khung: RLHJA3926NY256207; số máy: JA39E2753122; chủ xe là Nguyễn Trường V, địa chỉ: Đ, B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Qua làm việc, ông V khai đã bán chiếc xe trên cho người đàn ông tên C1 bằng giấy tờ tay (không làm thủ tục công chứng) từ tháng 3/2023. Ông Phạm Quốc C1, địa chỉ: C C, phường P, TP . xác nhận mua chiếc xe trên và cho Bùi Tấn T mượn để đi lại, không biết T sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội.
Bản cáo trạng số 24/CT-VKS-P1 ngày 02-02-2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Bùi Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Bùi Tấn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Bùi Tấn T từ 17 đến 18 năm tù. Đề nghị xử lý vật chứng đề nghị trả lại xe gắn máy hiệu Wave cho ông C1, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 02 điện thoại di động.
Luật sư Nguyễn Văn C phát biểu bào chữa cho bị cáo: Luật sư thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người sử dụng ma túy nên giúp đối tượng B bán ma túy nên có vai trò thứ yếu. Đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Bùi Tấn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được tại hiện trường, kết luận giám định, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Bùi Tấn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng T đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy bằng cách nhận rồi giao ma túy theo chỉ đạo của đối tượng tên B (chưa rõ lai lịch). Ngày 24/10/2023, T đã nhận của B 01 gói ma túy khay và 100 viên thuốc lắc tại khu vực gần sân bay T, thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 25/10/2023, T mang theo số ma túy trên đi đến khu vực Thôn P, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu để bán cho người tên H (không rõ lai lịch) với số tiền 77.000.000 đồng thì bị cơ quan công an bắt quả tang. Kết quả giám định xác định tổng khối lượng ma túy thu giữ trong vụ án là 40,0417 gam ma túy loại MDMA và 109,2609 gam ma túy loại Ketamine.
Căn cứ khoản 4 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, xác định tổng tỷ lệ khối lượng ma túy thu giữ theo khoản 4 Điều 251 BLHS là 76,462%. Do vậy, hành vi của bị cáo Bùi Tấn T thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự;
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, là người sử dụng ma túy nên nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ để có tiền và ma túy sử dụng mà cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo có 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng không biết cải tạo, sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 05 (năm) phong bì được niêm phong vụ số 454/1, 454/2, 454/3, 454/4, 454/5 ngày 31/10/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B là ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe gắn máy hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát số 72F1-90891, số khung: RLHJA3926NY256207; số máy: JA39E2753122 chủ xe là Nguyễn Trường V. Qua làm việc, ông V khai đã bán chiếc xe trên cho người đàn ông tên C1 bằng giấy tờ tay (không làm thủ tục công chứng) từ tháng 3/2023. Ông Phạm Quốc C1, địa chỉ: C C, phường P, TP . xác nhận mua chiếc xe trên và cho Bùi Tấn T mượn để đi lại, không biết T sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội và có yêu cầu được trả lại xe làm phương tiện đi lại nên xem xét trả lại xe cho ông C1.
- - 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen bị nứt màn hình, số IMEI: 355352043617253; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu vàng, bị nứt màn hình và vỡ mặt lưng, số IMEI: 353896103533299 liên quan đến tội phạm, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tấn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; - Xử phạt: Bùi Tấn T 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/10/2023.
-
Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) phong bì được niêm phong vụ số 454/1, 454/2, 454/3, 454/4, 454/5 ngày 31/10/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B (là các phong bì chứa ma túy còn lại sau giám định); 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen bị nứt màn hình, số IMEI: 355352043617253; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu vàng, bị nứt màn hình và vỡ mặt lưng, số IMEI: 353896103533299;
- - Trả lại cho ông Phạm Quốc C1 01 xe gắn máy hiệu Wave màu trắng, biển kiểm soát số 72F1-90891, số khung: RLHJA3926NY256207; số máy: JA39E2753122.
Vật chứng đang được Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 39/BB-CTHADS ngày 05/02/2024.
- Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 35/2024/HSST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 35/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Tấn T Mua bán trái phép chất ma túy
