Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CÁI RĂNG

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Thành, Ông Nguyễn Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Nhản- Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS, ngày 01.4.2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS, ngày 19.4.2024 đối với:

- Bị cáo Trần Văn T, sinh năm 1997; Nơi sinh: Kiên Giang; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Không nơi đăng ký thường trú; Nơi ở hiện nay: Sống lang thang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; con ông: Không rõ và bà: Không rõ; Bị cáo chưa có vợ con. Về nhân thân: Ngày 09.10.2013 đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định số: 3174/QĐ-UBND của Chủ tịch ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ

Tiền sự: Không.

Tiền án: 02 tiền án

  • - Ngày 30.12.2016, bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 09 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 283/2016/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25.5.2017. Chưa xóa án tích
  • - Ngày 23.11.2018, bị Tòa án thị xã N, tỉnh Hậu Giang tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ” theo bản án số: 30/2018/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27.9.2019. Chưa xóa án tích.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ theo Quyết định số: 18/QĐ-T A, ngày 19.7.2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

Có mặt tại Tòa

2. Những người tham gia tố tụng:

- Bị hại: - Bà Lý Ngọc H, sinh năm 1997. Yêu cầu giải quyết vắng mặt

Địa chỉ: Số C, phường A, quận N, TP. cần Thơ

Chỗ ở: Tổ D, khu V, phường H, quận C, TP .

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Trần Trường L, sinh năm 1994. Vắng mặt
  • Địa chỉ: Số B, đường Đ, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ

  • - Nguyễn Đình H1, sinh năm 1994. Vắng mặt
  • Địa chỉ: Số C, Lê Anh X, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

    Chỗ ở: Tổ 48, khu vực 7, phường Hưng Phú, quận Cái Răng, TP. Cần Thơ

- Người làm chứng:

  • - Trần Minh H2, sinh năm 1960. Có mặt
  • Địa chỉ: Số E, C, phường T, quận N, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 29 tháng 6 năm 2023 Trần Văn T đi bộ từ quận N thành phố cần T đến phường H, quận C thành phố cần Thơ. Khi đi đến nhà không số thuộc tổ D, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ thì Trần Văn T thấy cửa rào đã khóa, cửa chính không đóng nên T leo rào vào bên trong, mở cửa nhà lấy trộm xe mô tô biển kiểm số 65B2 -634.02 nhãn hiệu Vision màu hồng đen của bà Lý Ngọc H. Sau đó T lấy chìa khóa cửa rào, chìa khóa xe được để gần đó và mở khóa cửa rào dẫn xe ra ngoài cửa rào rồi sử dụng chìa khóa mở khóa xe điều khiển xe tẩu thoát.

Sau khi lấy trộm được xe mô tô của bà H, Trần Văn T điều khiển xe đến bãi giữ xe của Bệnh viện Đ cần Thơ để cất giấu và tìm nơi tiêu thụ tài sản. Sau đó Trần Văn T liên hệ với K chưa rõ nhân thân, địa chỉ và K giới thiệu Trần Trường L là người cần mua xe. Khi gặp Trần Trường L thì T nghe L nói chuyện điện thoại với người khác về thông tin có liên quan đến việc bà lý Ngọc H bị mất xe nêu trên nên T bỏ chạy, làm rớt chìa khóa xe, giấy chứng nhận đăng ký xe và để xe lại bãi giữ xe của Bệnh viện đa khoa thành phố Đ.

Đến khoảng 01 giờ 15 phút, ngày 29.6.2023, bà Lý Nọc H3 phát hiện bị mất xe mô tô nên đến Công an phường H, quận C, thành phố Cần Thơ trình báo sự việc. Đến ngày 02.7.2023, ông Trần Minh H2 là nhân viên giữ xe tại Bệnh viện đa khoa thành phố Đ đã giao lại xe mô tô trên cho Công an phường H, quận C, thành phố Cần Thơ xử lý.

Tại kết luận định giá tài sản số 79/TCKH-HĐĐG, ngày 17.8.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ kết luận 01 xe mô tô hiệu Honda, số loại Vision màu hồng đen, biển số 65B2-634.02 trị giá 25.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ đã thu hồi được tài sản bao gồm: Một xe mô tô hiệu Honda, loại Vision màu hồng đen, biển kiểm soát: 62B2-634.02; một chìa khóa xe (loại khóa từ) màu đen; một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 62B2-634.02; một căn cước công dân; một giấy phép lái xe hạng A1, thẻ ngân hàng mang tên Lý Ngọc H.

Thu giữ: Một nón bảo hiểm, một đôi dép quay ngang màu đen, một áo thun màu đen; một quần Short jean (ngắn) của Trần Văn T, tất cả đã qua sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, thành phố Cần Thơ đã trả lại xe mô tô 65B2-634.02 và các giấy tờ cá nhân cho bà Lý Ngọc H. Đồng thời nhập kho vật chứng đối với các vật chứng còn lại, chờ xử lý theo quy định pháp luật.

Lý Ngọc H đã nhận lại xe mô tô và các tài sản, không yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKS ngày 28.3.2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
  • -Về trách nhiệm hình sự:

    + Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù giam.

    -Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

    + Tịch thu tiêu hủy một nón bảo hiểm, một đôi dép quay ngang màu đen; một quận Short jean (ngắn) đã qua sử dụng.

    + Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bà Lý Ngọc H

    -Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trinh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Vào ngày 29.6.2023, bị cáo Trần Văn T lén lút lấy trộm tài sản của bị hại có tổng giá trị theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản là 25.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản". Bị cáo có 02 tiền án chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với giá trị trên 2.000.000 đồng. Bị cáo đã tái phạm nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát quận C đã truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoảng 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin đối với mọi người xung quanh, làm mất trật tự trị an tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục, cải tạo bản thân bị cáo tốt hơn và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật: Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Về tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

+ Bà Lý Ngọc H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Bà Lý Ngọc H đã nhận lại tài sản (biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 25.12.2023)

- Tịch thu tiêu hủy một nón bảo hiểm, một đôi dép quay ngang màu đen; một quận Short jean (ngắn) đã qua sử dụng của Trần Văn T .

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một nón bảo hiểm, một đôi dép quay ngang màu đen; một quận Short jean (ngắn) đã qua sử dụng.

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ (biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận C và Chi cục thi thành án dân sự quận C, ngày 28.3.2024).

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

[5] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận :

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ
  • - Viện kiểm sát quận Cái Răng;
  • - Nhà tạm giữ công an quận Cái Răng;
  • - Bị cáo;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hồng Vang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trân Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger