|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/DS-ST Ngày: 09 - 8 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp xe ô tô |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Tuyết
- Bà Lê Thu Thúy
- Thư ký phiên tòa:
Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà:
Bà Phạm Kim Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2024/TLST- DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp xe ô tô” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 137/2024/QĐST-DS ngày ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B; địa chỉ: tầng A tòa nhà T, số B đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1970; nơi cư trú: tổ E, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Quang M - chức vụ: Phó trưởng phòng khách hàng cá nhân - Ngân hàng TMCP B - chi nhánh Q và ông Đinh Quang T - chức vụ: Chuyên viên phòng khách hàng cá nhân – Ngân hàng TMCP B - chi nhánh Q là người đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền số 177/2024/UQ-LPBank.CNQN ngày 05/4/2024 của Ngân hàng TMCP B chi nhánh Q; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện; đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án - người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B khai:
- Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn bà Nguyễn Thị P đã được tòa án thông báo tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà P không cung cấp lời khai và không cung cấp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Tòa án đã thông báo về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đã tống đạt cho bà P nhưng bà P đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là 01 xe ô tô, nhãn hiệu KIA CERATO, biển kiểm soát 14A-498.99, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 090092 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp cho bà Nguyễn Thị P ngày 26/10/2020. Tại thời điểm thẩm định, tại nhà bà Nguyễn Thị P, địa chỉ số nhà C tổ E, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thì bà P không có ở nhà, không thấy xe ô tô ở nhà.
- Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng là 275.082.941 đồng, thay đổi yêu cầu về lãi trong hạn tính đến ngày 09/8/2024 là: 82.373.757 đồng, rút yêu cầu khởi kiện về lãi quá hạn, lãi chậm trả. Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về nợ gốc của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế là 30.951.237 đồng, lãi trong hạn là 48.186.292 đồng, phí, thuế 249.507 đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
- Ngày 09/11/2020, bà Nguyễn Thị P ký Hợp đồng tín dụng số HDTD3102020375 với Ngân hàng TMCP B với nội dung sau: + số tiền vay: 410.000.000 đồng;
+ mục đích sử dụng vốn: hoàn vốn tiền mua xe ô tô con nhãn hiệu KIA CERATO, biển kiểm soát 14A-498.99;
+ thời hạn vay: 72 tháng.
+ lãi suất cho vay trong hạn là: 10,7%/năm (áp dụng cho 03 tháng đầu). Số tiền lãi= ∑(số dư tính lãi x số ngày duy trì số dư thực tế x lãi suất tính lãi):365. Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, theo đó lãi suất cho vay tại thời điểm điều chỉnh được xác định theo công thức: LScv = LScs + Margin. Đối với khoản vay của bà P thay đổi mức lãi suất một lần, trong suốt quá trình vay đều duy trì mức lãi suất 15,35%/năm.
+ lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thười điểm chuyển nợ quá hạn.
+ lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, ngày 09/11/2020 bà Nguyễn Thị P đã ký hợp đồng thế chấp xe ô tô số 116/2020/HĐTC/CNQuangNinh với Ngân hàng TMCP B, tài sản bảo đảm là: xe ô tô con nhãn hiệu KIA CERATO, biển kiểm soát 14A-498.99, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 090092 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp cho bà Nguyễn Thị P ngày 26/10/2020. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.
- Ngày 07/12/2020, bà Nguyễn Thị P ký giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với Ngân hàng TMCP B với hạn mức cấp tín dụng: 40.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ bà P đã thực hiện giao dịch phát sinh với số tiền là: 30.951.237 đồng, mức lãi suất áp dụng cho khoản nợ thẻ tín dụng là 28%/năm.
- Quá trình trả nợ, bà P thực hiện không đúng nghĩa vụ, từ ngày 25/6/2021 khoản vay của bà P chuyển nợ quá hạn. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
+ đề nghị tòa án tuyên chấm dứt hợp đồng tín dụng số HDTD 3102020375 ngày 09/11/2020 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 07/12/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP B–CN Quảng Ninh với bà Nguyễn Thị P.
+ buộc bà Nguyễn Thị P phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngay cho Ngân hàng TMCP B chi nhánh Q theo Hợp đồng tín dụng số HDTD3102020375 ngày 09/11/2020 và giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 07/12/2020. Tính đến ngày 19/6/2024 nợ hợp đồng tín dụng là: 395.214.436đ (ba trăm chín mươi lăm triệu, hai trăm mười bốn nghìn, bốn trăm ba mươi sáu đồng); trong đó, nợ gốc hợp đồng tín dụng là 275.082.941đ (hai trăm bảy mươi lăm triệu, không trăm tám mươi hai nghìn, chín trăm bốn mươi mốt đồng), nợ lãi quá hạn: 78.069.196đ (bảy mươi tám triệu, không trăm sáu mươi chín nghìn, một trăm chín mươi sáu đồng), lãi phạt: 42.062.299đ (bốn mươi hai triệu, không trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm chín mươi chín đồng). Nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 19/6/2024 là: 77.197.001 đồng, trong đó: nợ gốc thẻ tín dụng 30.951.237 đồng, lãi thẻ tín dụng 45.996.257 đồng, thuế và phí 249.507 đồng.
+ Trong thời gian chưa thanh toán nợ, bà Nguyễn Thị P phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của pháp luật.
+ Ngay sau khi Bản án/Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Nguyễn Thị P không trả nợ hoặc chỉ trả được một phần khoản nợ thì Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp đã ký để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
+ Trường hợp xử lý tài sản đảm bảo nhưng không thanh toán đủ khoản vay, bà Nguyễn Thị P có trách nhiệm trả nợ tiếp cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.
Do người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải nên căn cứ vào khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Xuân V - tổ trưởng tổ E, khu A, phường H cho biết đã nhận được thông báo của Tòa án về việc xem xét thẩm định tại chỗ ông đã điện báo cho bà P để ở nhà và để tài sản thế chấp là xe ô tô để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ. Khoảng 08 giờ ngày 21/5/2024, bà P điện thoại thông tin lại cho ông V là bận đi làm, không có mặt ở nhà để tham gia thẩm định tài sản theo thông báo của tòa án. Hàng ngày, ông V vẫn thấy gia đình bà P sử dụng xe ô tô KIA CERATO, biển kiểm soát 14A-489.99 đi lại và đậu xe tại nhà bà P.
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các Điều 116, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 398, 357, 422, 463, khoản 1 Điều 466 và điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, trên sơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật có tranh chấp: Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị P phải trả cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết và có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Toà án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp xe ô tô” là tranh chấp dân sự phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: bị đơn trong vụ án là bà Nguyễn Thị P; cư trú tại tổ E, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc xét xử vắng mặt đương sự: tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị P vắng mặt (lần thứ hai không có lý do). Do vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn không ảnh hưởng đến tính khách quan khi giải quyết vụ án, đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc nguyên đơn thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện: việc nguyên đơn thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được Tòa án chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hiệu lực của hợp đồng đã giao kết giữa các bên:
hợp đồng tín dụng số HDTD 3102020375 ngày 09/11/2020 và Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 07/12/2020 giữa Ngân hàng TMCP B – C với bà Nguyễn Thị P được ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nên căn cứ Điều 117 của Bộ luật Dân sự, giao dịch trên có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B yêu cầu trả tiền gốc và lãi còn nợ của Hợp đồng tín dụng số HDTD3102020375 ngày 09/11/2020 thì thấy:
Tại khoản 2.1 Điều 2 Hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận thời hạn vay là 72 tháng, tính từ ngày 10/11/2020 đến ngày 10/11/2026; tại giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ ngày 10/11/2020 thể hiện, Ngân hàng giải ngân số tiền vay 410.000.000 đồng; phương thức giải ngân một lần và chuyển khoản vào số tài khoản 038848380001 tại Ngân hàng TMCP B - CN Quảng Ninh theo yêu cầu của bà Nguyễn Thu H tại yêu cầu chuyển tiền ngày 10/11/2020 (bà Nguyễn Thu H là người cho bà P vay 410.000.000 đồng mua ô tô KIA CERATO). Các kỳ trả nợ gốc: khách hàng phải trả nợ gốc cho Ngân hàng TMCP B theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 25, tổng cộng 72 kỳ (sau đây gọi là kỳ trả nợ gốc), kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 25/12/2020. Số tiền nợ gốc mà khách hàng phải trả mỗi kỳ là: 5.700.000 đồng, riêng kỳ cuối cùng trả 5.300.000 đồng; các kỳ trả nợ lãi: khách hàng phải trả tiền lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần, vào ngày 25 hàng tháng (sau đây gọi là kỳ trả nợ lãi). Kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 25/12/2020; đến ngày 11/10/2026 là thời hạn trả kỳ nợ cuối cùng của khoản vay.
Quá trình thực hiện hợp đồng trên, bà Nguyễn Thị P đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền là: 153.560.573 đồng. Ngày 25/6/2021, bà P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ theo quy định tại điểm f khoản 7.1 Điều 7 hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng TMCP B có quyền khởi kiện yêu cầu bà P phải trả cả tiền gốc và tiền lãi trước thời hạn là đúng với thỏa thuận của các bên.
+ Xét về số dư nợ gốc còn lại: buộc bà P phải trả cho Ngân hàng số tiền là: 275.82.941 đồng, đúng thực tế.
+ Đối với số tiền lãi trong hạn: khoản vay của bà P 03 tháng đầu áp dụng với mức lãi suất 10,7%/năm. Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, theo đó lãi suất cho vay tại thời điểm điều chỉnh được xác định theo công thức: LScv = LScs + Margin. Đối với khoản vay của bà P thay đổi mức lãi suất một lần, trong suốt quá trình vay đều duy trì mức lãi suất 15,35%/năm. Từ tháng 5/2022, bà P không trả gốc và lãi, khoản vay đã quá hạn, Ngân hàng đã ra quyết định thu hồi nợ toàn bộ đối khách hàng nhưng tạo điều kiện cho khách hàng có khả năng trả nợ. Ngân hàng chỉ yêu cầu bà P trả lãi trong hạn. Lãi trong hạn của bà P phải trả theo Bảng kê tính lãi là 82.373.575 đồng. Yêu cầu này của Ngân hàng là phù hợp với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, do vậy được chấp nhận.
Ngân hàng rút yêu cầu bà P trả lãi quá hạn và lãi suất chậm trả. Xét việc nguyên đơn rút yêu cầu là tự nguyện và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B về yêu cầu bà P trả số tiền tính đến ngày 09/8/2024 là: 357.456.698 đồng, trong đó: nợ gốc: 275.082.941 đồng, lãi trong hạn 82.373.757 đồng.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B về đề nghị xử lý tài sản thế chấp thì thấy:
để đảm bảo cho khoản vay nêu trên bà P đã ký hợp đồng thế chấp xe ô tô số 116/2020/HĐTC/CNQuangNinh với Ngân hàng TMCP B. Tài sản thế chấp tài sản là 01 xe ô tô con nhãn hiệu KIA CERATO, biển kiểm soát 14A-498.99, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 090092 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp cho bà Nguyễn Thị P ngày 26/10/2020. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp bà P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là để bảo đảm thi hành án là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 299 và 320 Bộ luật Dân sự, được Tòa án chấp nhận.
[2.4] Đối với yêu cầu khởi kiện về trả số nợ của Thẻ tín dụng thì thấy:
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, số tiền bà P đã chi tiêu trong kỳ là 30.951.237 đồng. Mức lãi suất trong hạn áp dụng đối với khoản vay thẻ của bà P là 28%/năm. Do bà P vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã cam kết trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng như nêu trên, nên việc Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà P phải trả nợ cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 09/8/2024 số tiền là: 79.387.036 đồng, trong đó nợ gốc là 30.951.237 đồng, lãi trong hạn là 48.186.292 đồng; phí, thuế là 249.507 đồng là có căn cứ nên cần phải được chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng:
nguyên đơn là Ngân hàng TMCP B đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; quá trình xem xét thẩm định tại chỗ chi hết số tiền là 1.300.000 đồng. Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, nguyên đơn yêu cầu bị đơn chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do đó, bị đơn là bà Nguyễn Thị P phải chịu số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, số tiền này được chi trả cho bên Ngân hàng TMCP B là bên đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B được Toà án chấp nhận, nên bà Nguyễn Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Trả lại Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 298, 299, 303, 317, Điều 318, Điều 319, 320, 398, 357, 422, 463, khoản 1 Điều 466 và điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B. Chấm dứt hợp đồng tín dụng số HDTD 3102020375 ngày 09/11/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP B – CN Quảng Ninh với bà Nguyễn Thị P.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B. Chấm dứt Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 07/12/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP B – CN Quảng Ninh với bà Nguyễn Thị P.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Buộc bà Nguyễn Thị P phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền 1.300.000đ (một triệu ba trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng TMCP B đã chi trả.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 21.474.000đ (hai mươi mốt triệu, bốn trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bà Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Buộc bà Nguyễn Thị P phải trả cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền tính đến ngày 09/8/2024 là: 357.456.698đ (ba trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn, sáu trăm chín mươi tám đồng); trong đó: nợ gốc là 275.082.941đ (hai trăm bảy mươi lăm triệu, không trăm tám mươi hai nghìn, chín trăm bốn mươi mốt đồng), lãi trong hạn là 82.373.757đ (tám mươi hai triệu, ba trăm bảy mươi ba nghìn, bảy trăm năm mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (09/8/2024) cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số HDTD 3102020375 ngày 09/11/2020 giữa Ngân hàng TMCP B và bà Nguyễn Thị P nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng thì lãi suất mà bà Nguyễn Thị P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP B theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng.
Trường hợp bà Nguyễn Thị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP B có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp 01 xe ô tô con nhãn hiệu KIA CERATO, biển kiểm soát 14A-498.99, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 090092 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp cho bà Nguyễn Thị P ngày 26/10/2020; theo hợp đồng thế chấp xe ô tô số 116/2020/HĐTC/CNQuangNinh được ký kết giữa bà Nguyễn Thị P với Ngân hàng TMCP B để thu hồi nợ.
Trong trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì bà Nguyễn Thị P còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chưa được thanh toán cho Ngân hàng TMCP B cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản tiền vay.
Buộc bà Nguyễn Thị P phải trả cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền tính đến ngày 09/8/2024 là: 79.387.036đ (bảy mươi chín triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, không trăm ba mươi sáu đồng); trong đó: nợ gốc là 30.951.237đ (ba mươi triệu, chín trăm năm mươi mốt nghìn, hai trăm ba mươi bảy đồng), lãi trong hạn là 48.186.292đ (bốn mươi tám triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn, hai trăm chín mươi hai đồng); phí, thuế là 249.507đ (hai trăm bốn mươi chín nghìn, năm trăm linh bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (09/8/2024) cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên thoả thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 07/12/2020 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP B – C với bà Nguyễn Thị P nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng thì lãi suất mà bà Nguyễn Thị P phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP B theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trả lại Ngân hàng TMCP B số tiền 10.867.000đ (mười triệu, tám trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000028 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Cúc |
Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp xe ô tô
- Số bản án: 35/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp xe ô tô
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng L - Nguyễn Thị P - hợp đồng tín dụng
