TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/DS-ST.
Ngày: 09-7-2024.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Hoàng Liên.
2. Ông Trần Văn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh
Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Địa chỉ trụ sở: Tháp B, số A T, phường L quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đức T1 - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N (Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 08/QĐ-BIDV.NT ngày 02/01/2024).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn C - Chức vụ: Chuyên viên phụ trách xử lý nợ - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh N (Theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 355/QĐ-BIDV.NT ngày 08/8/2023) (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Bị đơn: Ông Lê Trọng H - sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C trình bày:
Ngày 28/12/2020 ông Lê Trọng H có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (Viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng tín dụng số Q578/01/2020/HĐTD; cụ thể như sau: Số tiền vay: 150.000.000 đồng; Thời hạn vay: 48 tháng; Mục đích vay: Sửa nhà; Lãi suất vay ban đầu: 10,0%/năm; Lãi suất vay hiện nay: 11,5%/năm; Kỳ hạn trả nợ cuối cùng: Ngày 22/01/2025. Từ khi vay đến nay, ông H đã trả được cho Ngân hàng số tiền gốc là: 112.608.270 đồng; Số tiền lãi là: 28.428.131 đồng rồi sau đó không trả cho Ngân hàng số tiền nào khác. Tính đến hết ngày 09/7/2024, dư nợ của ông H là: Nợ gốc: 37.391.730 đồng; Nợ lãi: 6.861.537 đồng; Lãi chậm trả lãi: 36.614 đồng. Tổng cộng là 44.289.881 đồng.
Đến nay toàn bộ số dư nợ của ông H đã quá hạn; ông Nguyễn Văn C đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lê Trọng H phải trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 09/7/2024 là 44.289.881 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 37.391.730 đồng; Nợ lãi: 6.861.537 đồng; Lãi chậm trả lãi: 36.614 đồng và buộc ông Lê Trọng H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh của số nợ gốc từ ngày 10/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Tại “Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa” ngày 08/7/2024, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và những ý kiến ông C đã trình bày tại các “Bản tự khai”.
Bị đơn là ông Lê Trọng H: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Trọng H nhưng ông H không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn mặc dù đã được thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS).
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 BLTTDS.
Căn cứ điều 463, 466, 468, 470 BLDS, Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Buộc ông Lê Trọng H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 09/7/2024 là 44.289.881 đồng (Trong đó bao gồm: nợ gốc là 37.391.730 đồng, nợ lãi 6.861.537 đồng, lãi chậm trả lãi 36.614 đồng) và khoản lãi phát sinh của khoản nợ gốc đã được các bên thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng kể từ ngày 10/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay.
Ngoài ra, đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lê Trọng H phải trả số tiền còn nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng số Q578/01/2020/HĐTD ngày 28/12/2020. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của BLTTDS. Bị đơn có địa chỉ tại khu phố A, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Tại “Đơn xin vắng mặt tại phiên tòa” ngày 08/7/2024; người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn C xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, những ý kiến đã trình bày. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Lê Trọng H nhưng ông H không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu và lời khai nguyên đơn cung cấp; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1.1] Ngày 28/12/2020, ông Lê Trọng H có ký với Ngân hàng Hợp đồng tín dụng số Q578/01/2020/HĐTD (Viết tắt là Hợp đồng). Căn cứ nhu cầu và thu nhập của ông H; Ngân hàng đã giải ngân và ông H đã nhận đủ số tiền vay là 150.000.000 đồng. Hợp đồng giữa Ngân hàng và ông Lê Trọng H được ký kết trên cơ sở tự nguyện, mục đích, nội dung và hình thức đúng quy định của pháp luật nên xác định là Hợp đồng hợp pháp; là cơ sở để giải quyết quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
[2.1.2] Theo các tài liệu, chứng cứ Ngân hàng cung cấp thì quá trình thực hiện Hợp đồng, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng từ ngày 04/02/2021 đến ngày 22/5/2023 được tổng số tiền gốc là 112.608.270 đồng; số tiền lãi là: 28.428.131 đồng. Sau đó ông H không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng N1 đã được đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần.
[2.1.3] Như vậy, có cơ sở khẳng định ông Lê Trọng H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng, đã vi phạm Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết; ông H là người có lỗi nên phải chịu mọi hậu quả phát sinh từ hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
[2.2] Về lãi suất: Các bên thỏa thuận lãi suất vay ban đầu là 10,0%/năm (Điều 4 của Hợp đồng); ông H đã biết và thanh toán tiền gốc và lãi cho Ngân hàng từ ngày 04/02/2021 đến ngày 22/5/2023 mà không có ý kiến hay khiếu nại gì. Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Lê Trọng H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên từ sau ngày 22/5/2023; Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn như đã thỏa thuận là phù hợp với Điều 2, Điều 4 của Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Lê Trọng H còn phải tiếp tục chịu lãi suất của số tiền nợ gốc phát sinh từ ngày 10/7/2024 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong hợp đồng tín dụng của Ngân hàng. Xét thấy yêu cầu này phù hợp với các nội dung mà các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng; phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Từ các phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Trọng H, có nội dung thể hiện Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H phải trả số tiền vay còn nợ bao gồm nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn phát sinh từ Hợp đồng nhưng ông H không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện cũng như những tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình nên có cơ sở khẳng định ông H đã từ bỏ quyền của mình được pháp luật quy định.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Ngân hàng yêu cầu ông Lê Trọng H thanh toán số tiền 44.289.881 đồng và được Tòa án chấp nhận toàn bộ. Vì vậy, theo quy định tại Điều 147 BLTTDS; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn là ông Lê Trọng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.214.500 đồng (Đã làm tròn).
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự.
Các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
- Buộc ông Lê Trọng H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tính đến ngày 09/7/2024 là 44.289.881 đồng; Trong đó: Nợ gốc là 37.391.730 đồng, nợ lãi là 6.861.537 đồng, lãi chậm trả lãi là 36.614 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 10/7/2024); ông Lê Trọng H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của bên cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
- Về án phí:
- Ông Lê Trọng H phải chịu: 2.214.500 đồng (Đã làm tròn) (Hai triệu, hai trăm mười bốn nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại số tiền 1.072.000 đồng (Một triệu, không trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0002512 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND Tp. Phan Rang-Tháp Chàm; - Chi cục THADS Tp. Phan Rang-Tháp Chàm; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 35/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng B + Lê Trọng H
