1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 09 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Ngọc Trung.
Thẩm phán: Ông Triệu Ngọc Thức.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tâm, bà Nguyễn Thị Kim Thanh và ông Hoàng Lê Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: ông Trần Công Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lưu Văn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/11/1961 tại tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn Đ và bà Đặng Thị N (đều đã chết); Vợ: Đặng Thị G, sinh năm 1961; Con: Có 05 con.
* Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh T. Có mặt.
* Bị cáo: Lưu Văn T. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H – Luật sư, Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T.
Địa chỉ: M V, phố H, tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
* Bị hại: Ông Lý Văn T1, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;
2
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Vũ Thanh T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc T3 tậm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lưu Văn T4, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Lưu Văn T5, sinh năm 1966; Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
- Cháu Lưu Văn C, sinh năm 2009. Người đại diện hợp pháp là chị Lê Thị N1, sinh năm 1986 (mẹ đẻ), đều có mặt.
- Cháu Nguyễn Văn H1, sinh năm 2010. Người đại diện hợp pháp anh Lưu Văn N2, sinh năm 1980, cháu H1, anh N2 vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 11 năm 2023, Lưu Văn T, trú tại thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang đến nhà ông Lưu Văn T5, trú tại thôn D, xã L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang chơi, do biết ông T5 có 01 khẩu súng kíp tự chế (ông T5 tự chế tạo từ năm 2014) T hỏi mượn ông T5 khẩu súng kíp để săn bắn, ông T5 đồng ý và nói khẩu súng kíp để ở lán của gia đình ông T5 tại thôn G, xã H. Sau đó, T đến lán của gia đình ông T5 lấy khẩu súng kíp, nhồi đạn rồi mang súng về nhà cất giấu.
Sáng ngày 06/12/2023, thấy nhà bị mất điện (gia đình T sử dụng máy phát điện nước), T đi kiểm tra phát hiện đầu dây dẫn điện ở khu vực máy phát điện bị đứt, T cho rằng những người đi khai thác tre, nứa gần khu vực đó làm đứt. Cùng ngày, anh Lý Văn T1, trú cùng thôn (là Công an viên bán chuyên trách) thuê một số người đến khu vực đồi cây gần nơi T đặt máy phát điện nước để khai thác cây nứa.
Khoảng 11 giờ ngày 07/12/2023, T ăn cơm, uống rượu tại nhà mình cùng với anh Tướng Văn Q, Nguyễn Văn M (đều ở cùng thôn). Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm, uống rượu xong anh Q đi về, anh M ngủ tại nhà T, còn T ngồi sửa vòng bi máy phát điện nước tại sân, lúc này có cháu Lưu Văn C, sinh năm 2009 (cháu nội T) và cháu Nguyễn Văn H1, sinh năm 2010, cùng trú tại thôn G, xã H đến chơi. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang sửa máy phát điện thì thấy xe công nông chở nứa đi từ trong đồi cây ra, qua nhà T, anh T1 điều khiển xe mô tô một mình đi phía sau xe công nông. Thảm cho rằng ngày 06/12/2023 anh T1 khai thác nứa đã làm đứt dây dẫn máy phát điện của gia đình nên T đã chửi anh T1 và dùng tay kéo cạp chun quần đùi đang mặc xuống, tay phải cầm dương vật của mình hướng về anh T1 nói “Ăn B tao không”. Thấy vậy, anh T1 xuống xe đi đến cách Thảm khoảng 4,5m nói “Đâu, B ông đâu, đánh cho một trận bây giờ” thì T
3
T quay vào nhà cầm lấy khẩu súng kíp dựng ở tường nhà sát cửa, đi ra. Lúc này cháu H1 đứng cách anh T1 khoảng 1,2m và cháu C đứng cách anh T1 khoảng 2,1m nhưng có bức tường nhà che khuất T không nhìn thấy cháu H1 và cháu C. Khi T đi ra đứng cách anh T1 5,5m giơ hướng nòng súng nhằm về phía anh T1 đang đứng để bắn thì anh T1 xoay người từ phải sang trái, đẩy cháu H1 về phía bên trái khuất hẳn vào trong tường, T bóp cò súng nổ làm anh T1 bị nhiều viên đạn bi trúng vào vùng lưng bên phải, cánh tay phải, sau đó T cầm súng đi vào trong nhà, đi qua khe cửa nách rồi lên đồi phía sau nhà trốn và cất giấu khẩu súng kíp trong bụi tre. Anh T1 được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu.
Đến 16 giờ 50 phút cùng ngày T đến Ủy ban nhân dân xã H, huyện H đầu thú.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 28/2023/KLTTCT-TTPY ngày 26/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận:
1. Các kết quả chính: 06 sẹo vùng lưng bên phải mỗi sẹo 01%; 02 sẹo phần mềm 1/3 dưới cánh tay phải mỗi sẹo 01%; 05 di vật cản quang vùng lưng mỗi dị vật 01%; 01 dị vật cản quang vùng cánh tay phải 01%.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Văn T1 tại thời điểm giám định là 13% theo phương pháp cộng tại Thông tư.
Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích như trên là do hỏa khí gây nên.
Tại kết luận giám định số 1564/KL –KTHS ngày 23/12/2023 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng kíp thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng. Do chưa đủ điều kiện thực hành bắn thực nghiệm nên không xác định được mức độ gây sát thương của khẩu súng khi bắn ra.
Tại kết luận giám định số 58/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của phòng K công an tỉnh T kết luận:
+ Trên bông, các sợi nhỏ, các cục kim loại nhỏ, ống tre mầu vạng, thanh kim loại mầu đen không tìm thấy thuốc nổ.
+ Chất bột màu đen đựng trọng lọ nhựa, có nắp bằng ống tre là thuốc nổ đen, khối lượng 39,236g;
Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSTQ-P2 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội: Giết người theo điểm l, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lưu Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm l, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 57, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
4
Xử phạt bị cáo Lưu Văn T từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 08/12/2023.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền là 40.000.000 đồng tổn hại sức khoẻ bị hại là anh Lý Văn T1 đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo bồi thêm khoản tiền nào. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ các vật chứng đã thu giữ.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Nhất trí với tội danh, điều luật Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất cho bị cáo, xử phạt bị cáo từ 7 đến 8 năm tù.
Bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, tại phiên tòa không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm hay yêu cầu nào khác. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của luật sư, không bổ sung thêm ý kiến gì khác và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo Lưu Văn T trình bày đã nhận thực được hành vi dùng súng kíp bắn người của bị cáo là vi phạm pháp luật, là phạm tội giết người, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn T tiếp tục thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/12/2023, tại nhà Lưu Văn T, trú tại thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, do nghi ngờ anh Lý Văn T1 ở cùng thôn trong quá trình khai thác cây nứa đã làm đứt dây dẫn máy phát điện nước của gia đình mình nên T đã sử dụng khẩu súng kíp (tự chế) dài 1,7m, nòng súng bằng kim loại dài 1,34m, báng súng bằng gỗ dài 1,37m, đứng cách anh T1 5,5m nhằm bắn anh T1. Hậu quả anh Lý Văn T1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố về tội “Giết người” theo điểm l, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Văn T là đặc biệt nghiêm trọng và rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì nghi ngờ bị hại làm đứt dây điện nước của gia đình bị
5
cáo trong quá trình khai thác cây nứa bị cáo đã sử dụng súng tự chế bắn anh T1, dẫn đến anh T1 bị tổn hại 13% sức khoẻ, việc anh T1 không chết là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo là côn đồ, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác, bị cáo sử dụng súng kíp bắn đạn ria, khi bị cáo dùng súng bắn người bị hại Lý Văn T1 có cháu Lưu Văn C và Nguyễn Văn H1 đang đứng chơi tại vị trí cột lán trái nhà bằng bê tông, việc bị cáo bắn người bị hại khi có cả cháu H1, cháu C cùng đứng gần người bị hại (cháu H1 dứng cách người bị hại từ 50 - 70cm) là thuộc trường hợp bằng phương pháp có khả năng lằm chết nhiều người, hành vi của bị cáo có tính nguy hiểm cao, gây ảnh hưởng rất xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải áp dụng một mức hình phạt tù giam tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian có như vậy mới giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, ổn định trật tự an toàn xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong cho bị hại; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Sau khi phạm tội đã đến trụ sở UBND xã H đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, do đó được áp dụng chế định phạm tội chưa đạt theo quy định tại điều 15, điều 57 BLHS đối với bị cáo; Thương tích của người bị hại không lớn, quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường xong toàn bộ theo yêu cầu của người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, HĐXX cần áp dụng điều 54 BLHS xử phạt mức án dưới mức thấp nhất của khoản 1 điều 123 BLHS đối với bị cáo.
[4] Về mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị, của người bào chữa cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền là 40.000.000 đồng cho bị hại là anh Lý Văn T1, anh T1 đã nhận đủ và tại phiên toà anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 khẩu súng săn (dạng súng kíp); 01 ống tre màu vàng; 01 (một) lọ nhựa màu đen; 01 (một) lọ thuỷ tinh nắp bằng kim loại và 01
6
(một) thanh kim loại màu đen. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với hành vi của Lưu Văn T và Lưu Văn T5 tàng trữ 01 khẩu súng kíp (súng tự chế), do hành vi vi phạm hành chính, ngày 28/02/2024 Giám đốc Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T và T5 về hành vi “Tàng trữ súng săn”, quy định tại điểm d, khoản 4, Điều 11, Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức phạt tiền 15.000.000 đồng/ người (T5 đã chấp hành nộp phạt ngày 01/3/2024; Thảm chưa chấp hành).
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm l, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 08/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) khẩu súng săn (dạng súng kíp) có tổng chiều dài 1,70m; báng liền ốp dưới thân súng bằng gỗ, dài 1,37m, rộng 09cm; nòng súng bằng kim loại màu đen dài 1,34cm; súng có gắn 01 thanh tre dài 1,29m, đường kính lớn nhất 0,6cm. Khẩu súng được niêm phong ở phần đầu nòng súng và phần cò súng bằng giấy niêm phong có dấu đỏ của Trại tạm giam Công an tỉnh T và chữ ký của Điều tra viên niêm phong; Luật sư Nguyễn Thị H và người chứng kiến Nguyễn Mạnh H2
- 01 (một) ống tre màu vàng, đường kính 0,7cm, dài 7,5cm, bên trong ống có các cục kim loại màu đen; 01 (một) lọ nhựa màu đen, nắp bằng ống tre, bên trong có chứa chất bột màu đen còn lại sau giám định; 01 (một) lọ thuỷ tinh nắp bằng kim
7
loại; 01 (một) thanh kim loại màu đen, đường kính 0,6cm, dài 5,4cm. Tất cả được cho vào túi niêm phong mã số PS2, số 1909941 bên ngoài có chữ ký của Điều tra viên niêm phong; Luật sư Nguyễn Thị H và người chứng kiến Nguyễn Mạnh H2.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 15/5/2024).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lưu Văn T.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 09/7/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Ngọc Trung |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Tâm |
Triệu Ngọc Thức |
Ma Ngọc Trung |
|
Nguyễn Thị Kim Thanh |
||
|
Hoàng Lê Tâm |
8
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (giết người)
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn T phạm tội giết người
