Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 35/2024/DS-ST

Ngày: 09-05-2024

V/v tranh chấp: “ Hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Kiều Thu.
  2. Ông Nguyễn Bính.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 278/2022/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 175/2024/QĐST-DS ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Ông Mai Hoàng V, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1969;

Địa chỉ thường trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Nơi ở hiện tại: Số H, N, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Giấy ủy quyền có số chứng thực 07193, quyển số 08/2022TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 28/11/2022 tại văn phòng C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận - Có mặt).

*Bị đơn:

Bà Lê Thị T, sinh năm 1977.

Địa chỉ ĐKNKTT: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; (Vắng mặt).

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1980, Địa chỉ thường trú: Khu phố B, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/10/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – Ông Mai Hoàng V và người đại diện theo ủy quyền – ông Nguyễn Văn K, thống nhất trình bày:

Trong năm 2017 và 2018 ông Mai Hoàng V có cho bà Lê Thị T vay tiền để kinh doanh làm ăn, khi vay hai bên có lập Hợp đồng cho vay nhưng không có công chứng chứng thực, cụ thể như sau :

-Ngày 24/5/2017 ông Mai Hoàng V cho bà Lê Thị T vay khoản tiền 100 triệu đồng, lãi suất vay thỏa thuận là 01%/tháng, thời hạn vay 02 tháng, Theo tài liệu Hợp đồng cho vay đề ngày 24/5/2017 ;

- Đến ngày 03/6/2017 bà Lê Thị T tiếp tục vay thêm 50 triệu đồng, lãi suất vay thỏa thuận là 01%/tháng, khi vay tiền bà T có viết tay xác nhận khoản vay này vào mặt sau của tài liệu Hợp đồng cho vay đề ngày 24/5/2017.

- Đến ngày 20/3/2018 bà Lê Thị T tiếp tục vay thêm 100 triệu đồng, lãi suất vay thỏa thuận là 01%/tháng, thời hạn vay 02 tháng, khi vay khoản tiền này bà T có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 392088 của UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp cho ông Lê Thanh P, cập nhật biến động chủ sở hữu do nhận chuyển nhượng cho bà Lê Thị T từ ngày 24/01/2018; Theo tài liệu Hợp đồng cho vay đề ngày 20/3/2018.

Mặc dù đã thỏa thuận chỉ vay hai tháng sẽ trả tiền gốc và lãi nhưng tất cả các khoản vay trên bà T đều không trả gốc và lãi vay cho ông V khi đến hạn thanh toán.

Tại đơn khởi kiện ông mai Hoàng V1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê thị T2 phải thanh toán cả 03 khoản tiền gốc là 250 triệu đồng, và tiền lãi phát sinh từ ngày vay cho đến ngày khởi kiện 03 khoản vay nêu trên với mức lãi suất là 01%/tháng, tổng cộng tiền lãi ông V1 yêu cầu giải quyết buộc bà Lê thị T2 phải trả cho ông là 152 triệu đồng.

Tại phiên tòa Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn xác định : Ông Mai Hoàng V yêu cầu bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 (chồng bà T) phải liên đới trả lại cho ông V tiền vay gốc của 03 khoản vay trên tổng cộng là 250 triệu đồng. Ông V không yêu cầu bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải trả tiền lãi của 03 khoản vay nêu trên mà chỉ yêu cầu buộc bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành án, theo quy định pháp luật

Về án phí: Ông V đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật;

*Bị đơn bà Lê Thị T đã được Tòa án tổng đạt các thông báo thụ lý vụ án, và các văn bản tố tụng của tòa án nhưng không đến Tòa làm việc, không tham dự phiên tòa và cũng không có bản tự khai, trình bày ý kiến.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – Ông Nguyễn Minh T1 đã được Tòa án tổng đạt các thông báo bổ sung người tham gia tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng không đến tham gia phiên tòa và cũng không có bản tự khai, trình bày ý kiến.

*Tòa án đã hai lần tiến hành thông báo mở phiên hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được do Bị đơn không đến tham dự phiên hòa giải.

*Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tổ tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề xuất ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án như sau:

Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tiến hành các thủ tục thu thập chứng cứ và tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Các thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa có mặt đúng thành phần trong quyết định xét xử và đã tuân thủ đúng các quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Về phía người tham gia tố tụng: Các đương sự đã chấp hành đúng và thực hiện đầy đủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án;

Về nội dung giải quyết vụ án:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc vợ chồng bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải liên đới trả lại cho ông Mai Hoàng V 03 khoản tiền vay gốc tổng cộng là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng chẵn), theo Hợp đồng cho vay đề ngày 24/5/2017 và Hợp đồng cho vay đề ngày 20/3/2018. Đồng thời phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015,kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong.

+ Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm dân sự do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về Pháp luật tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Quá trình thụ lý vụ án Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Đòi lại tài sản” nhưng qua nghiên cứu đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ do Nguyên đơn cung cấp xét thấy: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án phát sinh từ hợp đồng vay tài sản (tiền), đây là “ Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự”. Đồng thời địa chỉ nơi cư trú của bị đơn cũng tại thành phố P; Do vậy vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố P, theo quy định tại khoản 03 điều 26, điểm a khoản 01 điều 35, điểm a khoản 01 điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 (Viết tắt BLTTDS) .

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đối với bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1, Tòa án đã cấp, tống đạt văn bản tố tụng theo địa chỉ do Nguyên đơn cung cấp và xác định, đồng thời cũng là địa chỉ của Bị đơn thể hiện trên Hợp đồng vay tài sản, tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 02 điều 227 và khoản 03 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1.

* Về áp dụng pháp luật: Giao dịch dân sự các bên đương sự tranh chấp trong vụ kiện, được giao kết thực hiện, sau thời điểm Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực pháp luật (01/01/2017), nên được áp dụng quy định tại Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản hướng dẫn Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết nội dung tranh chấp .

* Về giải quyết nội dung tranh chấp:

[1] Xét yêu cầu của Nguyên đơn:

[1.1] Nguyên đơn – Ông Mai Hoàng V khởi kiện yêu cầu Bị đơn – Bà Lê Thị T và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – Ông Nguyễn Minh T1 (Chồng bà T) liên đới trả lại cho ông khoản tiền vay gốc của 03 khoản vay là 250 triệu đồng.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, Nguyên đơn đã nộp các tài liệu là bản gốc Hợp đồng cho vay đề ngày 24/5/2017 và Hợp đồng cho vay đề ngày 20/3/2018. Xét thấy theo các tài liệu là hợp đồng cho vay nêu trên đã thể hiện: Bên vay tiền là bà Lê Thị T đã ký ghi rõ họ tên đồng thời đã giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V nhằm mục đích thế chấp để vay tiền;

Theo khoản 04 điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự quy định : “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo nhưng chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”.

Theo quy định tại khoản 02 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết sự kiện, tài liệu văn bản ... mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.

Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị T không có ý kiến phản đối, đối với các tài liệu chứng cứ là Hợp đồng cho vay đề ngày 24/5/2017 và Hợp đồng cho vay đề ngày 20/3/2018 của Nguyên đơn cung cấp, do vậy Nguyên đơn không phải chứng minh. Căn cứ vào các tài liệu hợp đồng cho vay do Nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận:

Từ ngày 24/5/2017 đến ngày 20/3/2018 bà Lê Thị T đã ký kết các Hợp đồng cho vay đề ngày 24/5/2017 và Hợp đồng cho vay đề ngày 20/3/2018, để vay của ông Mai Hoàng V 03 khoản tiền vay gốc: 100 triệu đồng + 50 triệu đồng + 100 triệu đồng, tổng cộng là : 250 triệu đồng; Khi vay tiền theo Hợp đồng cho vay ngày 20/3/2018 bà Lê Thị T có thế chấp cho ông Mai Hoàng V giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 392088 của UBND huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp cho ông Lê Thanh P, cập nhật biến động chủ sở hữu do nhận chuyển nhượng cho bà Lê Thị T từ ngày 24/01/2018. Toàn bộ 03 khoản vay nêu trên bà Lê Thị T cam kết vay trong vòng 02 tháng sẽ hoàn trả, nhưng tính đến ngày giải quyết xét xử vụ án bà Lê Thị T vẫn chưa trả 03 khoản

tiền vay gốc nêu trên cho ông Mai Hoàng V. Do vậy yêu cầu khởi kiện của ông Mai Hoàng V yêu cầu phải trả lại 03 khoản tiền vay gốc, tổng cộng là: 250 triệu đồng, là có căn cứ để chấp nhận.

Xét thấy mặc dù chỉ một mình bà Lê Thị T ký kết hợp đồng vay tiền của ông V nhưng mục đích vay thể hiện tại hợp đồng là để làm ăn kinh doanh, khoản vay này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng bà, như vậy các khoản vay này cũng là nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình, do vậy Nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải liên đới trả 03 khoản nợ vay nêu trên là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 02 điều 27, khoản 02 điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[1.2] Đối với khoản tiền lãi phát sinh từ tiền vay gốc : Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn xác định: Ông Mai Hoàng V không yêu cầu bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải trả tiền lãi vay của 03 khoản tiền vay gốc 250 triệu đồng nêu trên, đây là ý chí tự nguyện thuộc về quyền quyết định, tự định đoạt của đương sự, phù hợp với quy định tại điều 05 Bộ luật tố tụng Dân sự, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận và ghi nhận tại bản án.

[1.3] Về vấn đề Nguyên đơn yêu cầu bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải chịu lãi suất nếu chậm thi hành bản án là phù hợp quy định tại điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận .

[2]Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận, nên Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí, theo quy định tại khoản 01 điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cụ thể số tiền án phí bà Lê thị T2 và ông Nguyễn Minh T1 phải nộp là 12.500.000₫.

Hoàn trả lại cho ông Mai Hoàng V số tiền tạm ứng án phí là 10.040.000đ, theo biên lai số 0013827 ngày 02/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Căn cứ vào các quy định: Điều 357, Điều 463, khoản 01 điều 466, khoản 01 và khoản 02 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 02 Điều 27; khoản 02 điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 01 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật thi hành án dân sự.

2/ Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn- Ông Mai Hoàng V:
  2. Tuyên buộc vợ chồng bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải liên đới trả lại cho ông Mai Hoàng V 03 khoản tiền vay gốc tổng cộng là 250.000.000đ ( Hai trăm năm mươi triệu đồng chẵn), theo Hợp đồng cho vay đề ngày 24/5/2017 và Hợp đồng cho vay đề ngày 20/3/2018.

  3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Ghi nhận ý kiến của ông Mai Hoàng V về việc không yêu cầu vợ chồng bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải trả lại khoản tiền lãi phát sinh của 03 khoản tiền vay gốc tổng cộng là 250 triệu đồng, theo Hợp đồng cho vay đề ngày 24/5/2017 và Hợp đồng cho vay đề ngày 20/3/2018.
  5. Về án phí sơ thẩm:
  6. 4.1. Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Minh T1 phải nộp số tiền án phí sơ thẩm dân sự là: 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm ngìn đồng).

    4.2. Hoàn trả lại cho ông Mai Hoàng V số tiền tạm ứng án phí là 10.040.000đ (mười triệu bốn trăm ngìn đồng) theo biên lai số 0013827 ngày 02/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

  7. Án xử sơ thẩm công khai có mặt Nguyên đơn vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Quyền kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
  8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận :

-Tòa án Tỉnh;

- VKS Tp.Phan Thiết;

- Chi cục THADS TP. Phan Thiết;

- Đương sự;

-Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Như Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 35/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger