|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 09-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
- Ông Nguyễn Văn Cho
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1990 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị Y; vợ: Trần Thị Mỹ H1; con: có 01 người sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02 năm 2023, do nợ tiền của nhiều người mất khả năng chi trả, bị can Nguyễn Văn L lên mạng xã hội Facebook, thấy có trang mạng dịch vụ làm giấy tờ nhanh, trong đó có làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nhắn tin đặt làm 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất mang tên Nguyễn Văn L, phía làm giấy yêu cầu bị can L cung cấp các thông tin cần thiết về mảnh đất và hẹn 07 ngày lấy giấy, với chi phí 500.000 đồng, thì hai bên thống nhất. Đúng 07 ngày sau, có một người đàn ông lạ mặt đến Khu dân cư Trần Thị Y1 giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị can Nguyễn Văn L và lấy số tiền 500.000 đồng rồi bỏ đi. Sau khi có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị can L liên hệ bà Phan Thị Thu P, sinh năm 1979, thường trú ấp A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang nhờ bán 14.000m² đất là diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà L mới làm xong, với giá 110.000.000 đồng/1.000 m², bà P đồng ý và giới thiệu cho bà Trần Thị Hồng L1, sinh năm 1981, thường trú Khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang để mua.
Sau đó, bà L1 đồng ý và hẹn mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Văn phòng đăng ký đất đai huyện A, gặp ông Nguyễn Văn C là cán bộ quản lý đất đai thuộc Văn phòng đăng ký đất đai huyện A đối chiếu, thì phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Nguyễn Văn L là giả. Sau đó, bà L1 mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đến Cơ quan điều tra huyện A tố giác. Khi biết bị phát hiện, bị can Nguyễn Văn L đến Cơ quan điều tra đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn L thừa nhận hành vi phạm tội.
Ngày 11/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện A, ra Quyết định Trưng cầu giám định tại Phòng K Công an tỉnh K. Phòng K Công an tỉnh K, có bản Kết luận số: 1045/KL-KTHS ngày 27/10/2023 kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất mang tên Nguyễn Văn L là giả.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ vật chứng là 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền với đất mang tên Nguyễn Văn L, đã đưa vào hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS-AM ngày 08-01-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Văn Lenl về tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ. Về vật chứng đã đưa vào hồ sơ vụ án nên đề nghị không xem xét.
- - Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng tháng 3 năm 2023 do nợ tiền nhiều người và mất khả năng chi trả nên Nguyễn Văn L đã thuê người khác làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 989565 tên Nguyễn Văn L2 với số tiền 500.000 đồng. Sau đó, L thỏa thuận chuyển nhượng lại phần đất cho bà Trần Thị Hồng L1, bà L1 có ý định nhận chuyển nhượng nên đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A để đối chiếu thì phát hiện là giấy giả nên trình báo cơ quan Công an. Tại Kết luận giám định số: 1045/KL-KTHS ngày 27/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận “GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT” số: DD 989565 trên mẫu cần giám định ký hiệu A là giả.
[2.2] Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường và trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ thuê người khác làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là phạm tội nhưng bị cáo vẫn thực hiện là phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đã sử dụng giấy giả thực hiện hành vi trái pháp luật. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng tuy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nhưng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, hành vi của bị cáo bị ngăn chặn là do bị phát hiện kịp thời nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn. Thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu, từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự; hành vi kịp thời phát hiện chưa gây hậu quả xấu; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nên HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về vật chứng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bị cáo thuê người làm giả đã được đưa vào hồ sơ vụ án, nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí, bị cáo L chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với người nhận làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bị cáo hiện nay chưa xác định được lai lịch nhân thân, chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Căn cứ khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 09-5-2024) về tội Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
Giao cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2- Về vật chứng: Không xem xét.
3- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Văn L chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09-5-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L phạm tội Sử dụng tài liệu giải
