1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 35/2023/HS-ST Ngày: 08 - 11 - 2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Thiên Lương và bà Bùi Thị Kim Nhung.
Thư ký phiên tòa: Ông Dương Đức Hải, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2023/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/HSST-QĐ ngày 18/10/2023, đối với bị cáo:
Hoàng N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/6/1946, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; trình độ văn hóa: Lớp 5/7; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Hoàng L (chết) bà Phạm Thị U (chết); có vợ: Cao Thị D, sinh năm 1944; con có 08 con, đứa lớn nhất sinh năm 1971, đứa nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1944.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Tư T, sinh năm 1983.
- Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- + Anh Trần Đăng K, sinh năm 1962.
- Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 29/05/2023, ông Nguyễn Quảng C1, sinh năm 1944, cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình đang nằm ngủ trong nhà thì nghe tiếng đá ném vào nhà, ông C1 thức dậy đi ra sân để kiểm tra. Khi đi ra đến sân, ông C1 thấy ông Hoàng N, sinh năm 1946 (là hàng xóm cạnh nhà) đang đứng trong sân vườn nhà ông N. Lúc này, ông C1 nghi ngờ N là người ném đá vào nhà mình nên nói “tại sao ném đá vào nhà tôi”, N trả lời lại “bằng chứng đâu mà anh nói tôi ném đá vào nhà anh”. Bức xúc về việc ông C1 nói mình ném đá vào nhà, N nhặt một đoạn gỗ dài 120 cm, đường kính 3,5 cm ở sân rồi cầm theo đi bộ qua chỗ sân nhà ông C1 đang đứng. Tại đây, N dùng đoạn gỗ cầm bằng tay phải đánh một cái trúng vào cẳng tay trái của ông C1, tiếp đó N đánh tiếp một cái trúng vào vùng mông trái của ông C1. Lúc này, ông C1 kêu lên “mọi người ơi tôi bị đánh”, N bỏ về lại nhà mình, ông C1 được mọi người đưa đi cấp cứu. Hậu quả, ông Nguyễn Quang C bị một vết thương tích ở 1/3 dưới cẳng tay trái; 01 vết thương bầm tím tại vùng mông trái, phải điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện T, tỉnh Quảng Bình từ ngày 21/6/2023 đến ngày 28/6/2023 thì ra viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 123/ KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 17/7/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q, kết luận: Ông Nguyễn Quang C bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 03%, thương tích không nguy hiểm đến tính mạng.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ vật chứng vụ án, gồm: 01 đoạn gỗ hình trụ tròn, kích thước dài 120 cm, đường kính 3,5 cm.
* Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng N đã tự nguyện bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Quang C số tiền 4.500.000 đồng, ông Nguyễn Quang C đã nhận đủ tiền, cam kết chấm dứt phần dân sự, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSTH ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố bị cáo Hoàng N về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i khoản 1 Điều 52, các điểm b, i, o, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 47, Điều 36 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng N từ 09 tháng đến 12 tháng cải tại không giam giữ, thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án; miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gỗ hình trụ tròn, kích thước dài 120 cm, đường kính 3,5 cm; phần bồi thường dân sự các bên đã thỏa thuận xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người tham gia tố tụng khác, phù hợp với bản kết thúc xác minh nguồn tin về tội phạm, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 21/6/2023, tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình, do bức xúc vì bị hại ông Nguyễn Quang C nói mình ném đá vào nhà ông C, bị cáo Hoàng N đã có hành vi dùng một đoạn gỗ là hùng khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho ông C với tỷ lệ tổn thương cơ thể 03%. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, biết rõ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Hoàng N đã trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Hoàng N về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm nghiêm trọng đến thân thể, sức khỏe của ông Nguyễn Quang C, vi phạm quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng N thực hiện hành vi phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên (tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị hại ông Nguyễn Quang C đã 79 tuổi) nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bản thân bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên (tại thời điểm xét xử bị cáo đã 77 tuổi), phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa, người bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, HĐXX qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, o, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.
[6] Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, bị cáo chưa có lần nào vi phạm pháp luật bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử phạt nên bị cáo có nhân thân tốt.
[7] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cho thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. HĐXX xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho cộng đồng.
[8] Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo Hoàng N là người cao tuổi, không có công việc ổn định, thu nhập chỉ đủ để nuôi sống bản thân. Do đó, HĐXX xem xét, quyết định miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Quang C số tiền 4.500.000 đồng, ông Nguyễn Quang C đã nhận đủ tiền, cam đoan chấm dứt phần dân sự và không yêu cầu gì thêm về phần bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ 01 đoạn gỗ hình trụ tròn, kích thước dài 120 cm, đường kính 3,5 cm. Xét đây là vật chứng của vụ án được bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên cân tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[11] Về án phí: Bị cáo Hoàng N là người cao tuổi (tại thời điểm xét xử, bị cáo 77 tuổi), tại phiên tòa, bị cáo đề nghị được miễn án phí. HĐXX qua xem xét, quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là phù hợp với Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1 Điều 52, các điểm b, i, o, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 và Điều 36 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Tuyên bố bị cáo Hoàng N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt Hoàng N 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Hoàng N cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định của Luật Thi hành án hình sự.
- Về khấu trừ thu nhập: Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
- Trách nhiệm dân sự: Miễn xét.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gỗ hình trụ tròn, kích thước dài 120 cm, đường kính 3,5 cm (Vật chứng có số lượng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 04/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa).
- Án phí: Bị cáo Hoàng N được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/11/2023) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 08/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 35/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Nh
