|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày: 08/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Viết Vĩnh
2. Ông Nguyễn Văn Hợi
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quang Thành; Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1963;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/10; Con ông: Nguyễn Văn B (đã chết), con bà: Nguyễn Thị C, đã chết; Gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là thứ 4; Có vợ Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963; Có 04 con: Lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1993.
Tiền án: 01
Tại Bản án số 123/2021/HSST ngày 16/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại, bị cáo đã thi hành xong khoản tiền án phí Hình sự sơ thẩm. Ngày 15/4/2022, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/05/2017 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt hành chính, mức phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc tại QĐ số 0082048 ngày 26/5/2017. Quá trình xác minh tại Kho bạc nhà nước huyện P không tìm thấy tài liệu về việc chấp hành Quyết định xử phạt của Tính; Ngày 22/06/2020 bị Công an huyện P ra Quyết định xử phạt hành chính, mức phạt 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản tại QĐ số 43331, ngày 24/06/2020 Tính chấp hành xong quyết định.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Minh P, sinh năm 1989; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
HKTT: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên;
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố K, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
* Người chứng kiến:
1. Anh Lương Tuấn A, sinh năm 1978
Trú tại: xóm Tân Thành, xã Kha Sơn, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
2. Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 2000
HKTT: xóm B, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (đều vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tổ công tác Công an xã K, huyện P đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm T, xã K thì phát hiện Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng bạc, BKS 20G1-317.95 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra, T tự giác giao nộp 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng lấy ra từ túi quần bên trái đang mặc, theo T khai nhận là ma túy Heroine của T để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày 25/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình phối hợp cùng Phòng K công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng trong bì thư niêm phong (kí hiệu A) có khối lượng 0,265 gam. Lấy toàn bộ khối lượng chất bột màu trắng sau cân niêm phong (kí hiệu A1) gửi giám định tại phòng K Công an tỉnh T.
Tại Bản kết luận giám định số 111 ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,265 gam.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong (ký hiệu A1), bên ngoài có chữ: “Hoàn trả 0,253 gam mẫu và vỏ bao gói mẫu Al sau giám định vụ Nguyễn Văn T, sinh năm 1963. Phạm tội về ma túy; 01 phong bì niêm phong ký hiệu B1, bên ngoài có chữ "Điên thoại di động nhãn hiệu Masstel Max R1 màu đen cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T"; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng bạc, BKS: 20G1-31795, có số máy: HC12E7100703, có số khung: RLHHC1257FY100633 (kèm theo chìa khóa xe) hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận: Bản thân nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, bị cáo một mình điều khiển xe mô tô đi từ nhà tới khu vực xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây T gặp một người đàn ông lạ mặt và mua được của người này 01 túi ma túy Herone với giá 400.000 đồng sau đó cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi về đến khu vực xóm T, xã K, huyện P thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Tính xác định bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích gì khác.
Lời khai của Nguyễn Văn T là có căn cứ, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến và những chứng cứ tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Ngày 17/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Max R1 màu đen tạm giữ của Nguyễn Văn T nhưng không phát hiện nội dung gì liên quan đến vụ án.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSPB ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 36 tháng đến 42 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,253 gam mẫu A1 còn lại sáu giám định và vỏ bao gói mẫu A1.
- Hoàn trả bị cáo Nguyễn Văn T 01điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Max R1 màu đen cũ, đã qua sử dụng.
- Trả lại 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: trắng đen, gắn BKS: 20G1-317.95, số khung: RLHHC1257FY100633, số máy: C12E7100703, dung tích xi lanh: 97cm³, đăng ký ngày 06/02/2016 do Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ qua sử dụng (Có 01 chìa khóa xe) cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Minh P quản lý, sử dụng.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn áp phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận, Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Hồi 15 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại khu vực xóm T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ 0,265 gam ma túy loại heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.
[3]. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân huyện P truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cụ thể nội dung Điều 249 BLHS có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroin, ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam....”
Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo biết việc bị cáo tàng trữ tài phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi (H) là chất ma túy nằm trong Danh mục các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn, hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “ Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích và 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính.
[5]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nhưng không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện, mắc tệ nạn xã hội. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, bị đưa ra xét xử nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà ngược lại, bị cáo nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. HĐXX xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành một người công dân tốt như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là có phần nghiêm khắc so với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,253 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 là vật liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel Max R1 màu đen cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T, quá trình điều tra đã xác định bị cáo không sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: trắng đen, gắn BKS: 20G1-317.95, số khung: RLHHC1257FY100633, số máy: C12E7100703, dung tích xi lanh: 97cm³, đăng ký ngày 06/02/2016 do Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ qua sử dụng (Có 01 chìa khóa xe), quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe trên là chị Nguyễn Minh P. Chị P không biết việc bị cáo sử dụng xe để tàng trữ ma túy. Do vậy cần phải trả lại chị P quản lý, sử dụng.
[7].Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của 01 người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiếp tục điều tra, xác minh có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS;
1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 của BLTTHS: Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong (ký hiệu A1), bên ngoài có chữ: “Hoàn trả 0,253 gam mẫu và vỏ bao gói mẫu Al sau giám định vụ Nguyễn Văn T, sinh năm 1963. Phạm tội về ma túy;
- Hoàn trả bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu B1, bên ngoài có chữ "Điên thoại di động nhãn hiệu Masstel Max R1 màu đen cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn T.
- Trả lại 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: trắng đen =, gắn BKS: 20G1-317.95, số khung: RLHHC1257FY100633, số máy: C12E7100703, dung tích xi lanh: 97cm³, đăng ký ngày 06/02/2016 do Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ qua sử dụng (Có 01 chìa khóa xe) cho chị Nguyễn Minh P quản lý, sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 /4 /2023 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)
3.Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn cho bị cáo Nguyễn Văn T 200.000 đồng án phí HSST.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị P) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
