Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LANG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 08-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mai Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Chu Quốc Đạt
  2. Ông Đoàn Văn Cương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Bùi Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trực tuyến Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu trực tuyến Trại tạm giam công an tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với:

* Bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn N, sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Dương Văn L, sinh năm 1971 và bà Ngụy Thị N1, sinh năm 1973; gia đình có hai anh em, bản thân bị cáo là thứ nhất. Bị cáo có vợ là Lâm Thị Đ, sinh năm 1993; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019;

Tiền án: Bản án số 93/2022/HSST ngày 30/9/2022 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt Dương Văn N 01 năm 04 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 27/7/2023. Bị cáo không phải chịu án phí và hình phạt bổ sung.

Tiền sự: Không có.

2

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ 11/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Lâm Thị Đ, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 40 phút ngày 11/01/2024, tại đoạn đường tỉnh lộ 295 thuộc thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L bắt quả tang Dương Văn N, sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố Q, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ tại rìa đường 295 ngay vị trí phát hiện, kiểm tra ban đầu đối với Dương Văn N 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong túi đựng chất tinh thể màu trắng cùng 02 (hai) viên nén màu hồng đỏ, tất cả đều nghi là ma tuý tổng hợp. Dương Văn N khai nhận tất cả đều là ma tuý của N, mục đích tàng trữ là để bản thân sử dụng. Vật chứng thu giữ được tổ công tác niêm phong trong phong bì ký hiệu “KN”.

- 01 (một) chiếc xe mô tô màu trắng - đen, biển kiểm soát 98M7-2972, số khung: 6A011557, số máy: 5A311557, xe cũ đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh có ốp lưng bằng nhựa, máy cũ đã qua sử dụng.

Cùng ngày 11/01/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Dương Văn N nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Dương Văn N, kết quả Dương Văn N dương tính với chất ma tuý (Methamphetamine).

Tại Cơ quan điều tra Dương Văn N khai nhận hành vi phạm tội và nguồn gốc số ma tuý như sau: Bản thân N có sử dụng ma tuý “đá” và “ngựa”. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, N đi xe mô tô màu trắng- đen, biển kiểm soát 98M7-2972 từ nhà xuống khu vực Bến xe khách B thuộc thành phố B, tỉnh Bắc Giang để tìm mua ma tuý về sử dụng. Đến nơi, N gặp một người đàn ông không quen biết và mua của người này 1.000.000 đồng ma tuý gồm ma tuý đá và 02 viên ma tuý “ngựa” được đựng chung trong 01 túi nilon bên ngoài quấn băng dính màu đen. Sau khi mua ma tuý xong, N vào số xe máy (số D) rồi đặt túi ma tuý vừa mua vào chỗ để chân bên trái của xe máy và dẫm chân trái lên rồi điều khiển xe đi về. N điều khiển xe sang xã T, huyện L chơi. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, khi đang đi trên tỉnh lộ 295 thuộc khu vực thôn M, xã T thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra. Do sợ bị phát hiện nên N đã phóng xe máy bỏ chạy lên vỉa hè đồng thời nhấc chân trái lên để gói ma tuý rơi xuống

3

đất. Sau khi bỏ chạy được khoảng 100 mét thì N bị tổ công tác khống chế, bắt giữ và thu giữ túi ma tuý của N.

Tại Kết luận giám định số 114/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu hồng đỏ đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ, bên ngoài quấn băng dính màu đen đều là chất ma túy, có khối lượng 0,439 gam, loại Methamphetamine”.

Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 10 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Dương Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Dương Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đã nêu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn N từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 11/01/2024.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu huỷ số ma tuý và sinh phẩm hoàn lại sau giám định; trả lại cho chị Lâm Thị Đ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M7-2972 do chị Đ không biết việc bị cáo N sử dụng xe của chị để đi mua ma túy; trả lại bị cáo N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO là tài sản của cá nhân của bị cáo N không dùng vào việc phạm tội.

Về án phí: Do bị cáo là người khuyết tật nặng nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều

4

tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Xét về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 12 giờ 40 phút ngày 11/01/2024, tại đoạn đường tỉnh lộ 295 thuộc thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Dương Văn N đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,439 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện L phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Xét thấy bị cáo Dương Văn N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giữ ma tuý mục đích để sử dụng là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác.

[4] Về nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn N từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 27/7/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt của bản án. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy bị cáo là người không chịu rèn luyện, không chấp hành pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người khuyết tật nặng. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

5

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đó là cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Loại và mức hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người khuyết tật nặng, không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cần tịch thu tiêu huỷ số ma tuý và sinh phẩm hoàn lại sau giám định; trả lại cho chị Lâm Thị Đ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M7-2972 do chị Đ không biết việc bị cáo N sử dụng xe của chị để đi mua ma túy; trả lại bị cáo N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO là tài sản của cá nhân của bị cáo N không dùng vào việc phạm tội.

[8] Các vấn đề khác:

  • - Đối với đối tượng bán ma tuý cho N, N khai không quen biết, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý đối với người này là phù hợp.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo N: Ngày 22/02/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N về hành vi này là đúng quy định.
  • - Đối với chị Lâm Thị Đ không biết việc N sử dụng xe máy của mình đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
  • - Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Về án phí: Bị cáo Dương Văn N là người khuyết tật nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

6

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm p, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Dương Văn N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 11/01/2024.

    Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  4. Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì dán kín niêm phong bằng dấu của Công an xã T, L, Bắc GiangPhòng K Công an tỉnh B, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “KN” chứa ma túy hoàn lại sau giám định; 01 phong bì dán niêm phong bằng dấu của Phòng K Công an tỉnh BV, có chữ ký cùng họ tên của những người tham gia, ký hiệu “Vỏ, bao gói hoàn lại của KN”, “HT28.24” chứa sinh phẩm hoàn lại sau giám định.

    Trả lại cho bị cáo Dương Văn N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh có ốp lưng bằng nhựa, máy cũ đã qua sử dụng.

    Trả lại cho chị Lâm Thị Đ 01 chiếc xe mô tô màu trắng - đen, biển kiểm soát 98M7-2972, số khung: 6A011557, số máy: 5A311557, xe cũ đã qua sử dụng.

    (Vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 33/QĐ-VKS ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang)

  5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Dương Văn N được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lạng Giang;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Lạng Giang;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang;
  • - VKSND, Sở TP tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Mai Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger