Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 06-5-2024

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Mai Thị Duyên

Ông Nguyễn Văn Thiện

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lương Đình H, sinh ngày 14/11/1983, nơi sinh: Hải Phòng; nơi cư trú: Số D L, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Tuyết C (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Bị cáo có 02 tiền án: Bản án số 39/2021/HS-ST ngày 25/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, 24 tháng thử thách về tội Gây rối trật tự công cộng; Bản án số 66/2021/HS-ST ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản đối với các hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn các quận L, Hồ N, H, Ngô Q, thành phố Hải Phòng trong khoảng thời gian từ ngày 17 tháng 02 năm 2020 đến ngày 06 tháng 11 năm 2020 tổng hợp với 12 tháng tù giam của bản án số 39/2018/HS-ST ngày 25/7/2018 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng do bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 05 năm 06 tháng tù (Bị cáo hiện đang chấp hành án đối với bản án này tại trại giam Xuân Nguyên – Bộ C1) (chưa được xóa án tích). Nhân

thân: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 35/2011/HS-ST ngày 11/10/2011 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.

- Bị hại: Chị Phạm Quỳnh A, sinh năm 2002, ĐKHKTT: Số E Hồ S, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17 tháng 10 năm 2020, Lương Đình H đi bộ lang thang trên khu vực đường V với mục đích xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến trước cửa hàng số C V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, H phát hiện thấy chiếc xe máy điện nhãn hiệu ROMAS màu xanh BKS: 15MĐ1-485.93 của chị Phạm Quỳnh A, sinh năm: 2002, ĐKHKTT: SỐ E Hồ S, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng) dựng trên vỉa hè trước cửa hàng (Chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa, không có ai trông coi) nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. H lén lút đi đến chỗ xe máy điện, dắt xe xuống đường V rồi điều khiển xe đi về phía đường N. Trên đường đi, H gọi điện cho Đào Tuấn A1 (Sinh năm: 2000, ĐKNKTT: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang) và nói: "Anh có con xe máy điện, anh vừa làm được, không có giấy tờ, em có mua không, giá 1.900.000 đồng". Đào Tuấn A1 đồng ý mua và hẹn gặp H tại khu vực trước cửa khách sạn R, đường N, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Sau đó, H mang chiếc xe vừa trộm cắp được đến khu vực trên và bán cho Đào Tuấn A1 với giá 1.900.000 đồng. Số tiền này H sử dụng chi tiêu cho cá nhân.

Sau khi sự việc xảy ra, chị Phạm Quỳnh A có đơn trình báo gửi Công an phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Ngày 06/11/2020, Lương Đình H bị bắt về hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn quận N, L, H. Trong quá trình điều tra, H khai về hành vi trộm cắp 01 xe máy điện nhãn hiệu Romas BKS MĐ1-485.93 tại trước cửa hàng V, số C V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Do chưa tìm được tang vật nên Hội đồng định giá tài sản không đủ thông tin căn cứ để định giá tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Ngày 06/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Lương Đình H.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận H kết luận: Giá trị của tài sản xe máy điện nhãn hiệu ROMAS, BKS: 15MĐ1 – 485.93 tại thời điểm tháng 10/2020 là 11.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lương Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên.

Tại Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 09/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lương Đình H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu là đúng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Lương Đình H phạm tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ phần tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lương Đình H từ 18 tháng đến 21 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 5 năm 5 tháng 21 ngày của Bản án số 66/2021/HS-ST ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải nộp ngân sách nhà nước 1.900.000 đồng tiền do phạm tội mà có. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đến nay vẫn chưa được thu hồi, bị hại có yêu cầu bị cáo phải bồi thường 11.000.000 đồng là giá trị xe do Hội đồng định giá đã định giá. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo H phải trả lại số tiền 11.000.000 đồng cho chị Phạm Quỳnh A.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định

của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng trong vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 17/10/2020, tại khu vực vỉa hè trước cửa hàng số C V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, Lương Đình H đã lén lút chiếm đoạt 01 xe máy điện nhãn hiệu ROMAS, BKS: 15MĐ1 – 485.93 của chị Phạm Quỳnh A trị giá 11.000.000 đồng.

[3] Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo nhận thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả đồng thời mong muốn chiếm đoạt được tài sản của bị hại để tiêu xài, do đó lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

[4] Từ những nhận xét nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 11.000.000đồng, do đó hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không oan sai đối với bị cáo.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo Lương Đình H đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, do đó hành vi của bị cáo chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo 03 tiền án, trong đó 01 tiền án đã được xóa án tích, 02 tiền án chưa được xóa án tích. Như vậy thấy nhân thân của bị cáo rất xấu. Bị cáo là những người có sức khỏe nhưng không lo làm ăn, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động, tham lam, tư lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.

- Về hình phạt:

[7] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, đã bị Tòa án xét xử nhưng vì tham lam, tư lợi nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc truy

tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo đang chấp hành án đối với Bản án số 66/2021/HS-ST ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của Bản án này đối với bản án trên.

[8] Đối với số tiền bị cáo bán tài sản chiếm đoạt của chị Quỳnh A được 1.900.000 đồng. Số tiền này bị cáo dùng tiêu xài cá nhân. Đây là số tiền do phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải nộp lại 1.900.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Đối với xe máy điện nhãn hiệu Romas BKS MĐ1-485.93 chủ sở hữu là chị Phạm Quỳnh A, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng chưa thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục truy tìm, xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về trách nhiệm dân sự.

[11] Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại. Bị hại yêu cầu bị cáo phải trả 11.000.000 đồng là giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng là giá trị của chiếc xe mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại theo kết quả định giá của Hội đòng định giá. Xét yêu cầu của bị hại là có căn cứ nên chấp nhận. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác.

- Về các vấn đề khác:

[12] Đối với hành vi mua bán 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu ROMAS giữa Lương Đình HĐào Tuấn A1 vào ngày 17/10/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 736 ngày 13 tháng 3 năm 2024 về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và Quyết định tách vụ án hình sự số 760 ngày 15/3/2024 để tiếp tục điều tra.

[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 53, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Lương Đình H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lương Đình H 15 (mười lăm) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 05 (năm) 05 (năm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 66/2021/HS-ST ngày 07/5/2021 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm 08 (tám) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/11/2020.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo phải nộp 1.900.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo phải trả cho bị hại là chị Phạm Quỳnh A số tiền 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) là giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lương Đình H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - CQĐT - Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV 06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

UBND phường Đ, quận H, thành phố Hải Phũng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thiện

Mai Thị Duyên

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger