Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ L

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/DS-ST

Ngày: 05-7-2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Yến Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Thơm – Bà Lương Thị Thạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Tòa án nhân thị xã L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đan C, sinh năm: 1985. Có mặt

Địa chỉ: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận

- Bị đơn: Ông Bùi T, sinh năm: 1984. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố 3, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 12 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đan C trình bày: Bà và ông T đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân phường B. Trong quá trình chung sống bà và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Ông T cờ bạc, phá tán tài sản gia đình. Bà đã cho ông nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng ông vẫn không thay đổi. Từ đầu năm 2022, bà và ông T không còn sống chung. Tháng 12/2023, bà có nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T, tuy nhiên, sau đó bà đã rút đơn khởi kiện với mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm để cùng nhau nuôi dạy con cái, nhưng ông T vẫn không thay đổi. Từ tháng 12/2023 đến nay vợ chồng không gặp nhau và ông T cũng không đến thăm con. Hiện nay, bà không còn tình cảm với ông T nữa, do đó bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có một con chung là Bùi Gia B, sinh ngày 01/7/2023. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Bùi T trình bày: Quá trình giải quyết, bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do. Tại biên bản xác minh nơi cư trú, địa phương cung cấp, ông Bùi T vẫn còn sinh sống tại địa phương nhưng không hợp tác, Tòa án không thể tiến hành tống đạt văn bản tố tụng trực tiếp cho ông T được. Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (thông báo thụ lý, thời gian làm việc, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như thời gian vụ án được đưa ra xét xử) cho bị đơn theo quy định, nhưng bị đơn không có mặt và không có văn bản trình bày ý kiến theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C, bà Nguyễn Thị Đan C được ly hôn với ông Bùi T; Giao con chung Bùi Gia B cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không xem xét giải quyết. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Thị Đan C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi T, và yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nên quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Bùi T có nơi cư trú tại khu phố 7, phường B, thị xã L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Bùi T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà C và ông T đăng ký kết hôn năm 2011 tại Uỷ ban nhân dân phường B, thị xã L trên cơ sở tự nguyện. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Bà C trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, ông T thường xuyên nhậu nhẹt, chửi mắng và đánh đập bà. Tại phiên tòa, bà C khẳng định không còn tình cảm với ông T nữa và kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông T.

Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện, địa phương không nhận được đơn trình báo đề nghị hòa giải mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và Bà C, tuy nhiên, thực tế thì ông T có cờ bạc, không lo làm ăn. Bà C đã dẫn theo con bỏ đi, không còn sinh sống với ông T nữa.

Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T để tiến hành hòa giải, nhưng ông T vắng mặt. Những căn cứ nêu trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa Bà C và ông T thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải chấp nhận cho Bà C được ly hôn với ông T.

[2.2] Về con chung: Ông T và Bà C có một con chung là cháu Bùi Gia Bảo, sinh ngày 1/7/2013. Bà C yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Tại biên bản xác minh địa phương thể hiện Bà C có nghề nghiệp kinh doanh, buôn bán, Bà C có nơi cư trú, thu nhập ổn định, ông T không có nghề nghiệp. Tại phiên tòa, ông T vắng mặt nên không trình bày ý kiến về vấn đề con chung. Tại bản tự khai, cháu Bùi Gia B trình bày nguyện vọng muốn sống cùng với mẹ. Xét thấy, hiện nay, cháu B đang sống cùng bà C, và đang học tập tại trường Tiểu học thuộc phường P, do đó, cần giao cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng con chung để tránh làm xáo trộn cuộc sống và tâm sinh lý của cháu, đồng thời cũng đảm bảo sự ổn định về nơi sinh sống, học tập của con chung. Việc giao con chung cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình và đảm bảo được sự phát triển mọi mặt của con chưa thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết, mặc dù đã được Tòa án giải thích về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nhưng bà C tự nguyện không yêu cầu ông Bùi T cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, xét thấy, bà C có nghề nghiệp ổn định, có khả năng và điều kiện nuôi dưỡng con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không buộc ông Bùi T phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3] Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đan C đối với ông Bùi T về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đan C được ly hôn với ông Bùi T.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đan C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bùi Gia B, sinh ngày 01/7/2013. Ông Bùi T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Bùi T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, các đương sự đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật.

  1. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  2. Án phí: Bà Nguyễn Thị Đan C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0011330 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L. Bà C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết công khai bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã L;
  • - Chi cục THADS thị xã L;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường B;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 35/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger