Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN TRƯỜNG

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số 35/2024/HS-ST

Ngày: 09-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trần Văn Trang;
  • Ông Phạm Kim An.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: Ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Văn P, sinh ngày 07/01/1993, nơi cư trú: tổ F, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn P1 và bà Bùi Thị Kim N; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 2002 và có một con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 19/02/2021, bị Công an thị trấn X, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

    Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Tại phiên toà bị cáo có mặt.

  2. Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 23/01/1985; nơi cư trú: tổ E, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng K (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; tại phiên toà bị cáo có mặt.
  3. Nguyễn Văn D1, sinh ngày 20/4/1986; nơi cư trú: tổ E, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang C (đã chết) và bà Bùi Thị X; có vợ là Vũ Thị Kim D2, sinh năm 1987 và có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; tại phiên toà bị cáo có mặt.
  4. Vũ Văn C1, sinh ngày 22/7/1982; nơi cư trú: Xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc Đ1 và bà Bùi Thị L1; có vợ là Đoàn Thị T, sinh năm 1984và 03 con, con lớn sinh năm 2008 và con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; tại phiên toà bị cáo có mặt.
  5. Nguyễn Mạnh L2, sinh ngày 13/02/1991; nơi cư trú: tổ E, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị N1; có vợ là Kiều Thị V, sinh năm 1991 và có hai con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; tại phiên toà bị cáo có mặt.
  6. Đoàn Tâm, sinh ngày 22/3/1972 ; nơi cư trú: tổ F, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Công T2 (đã chết) và bà Trần Thị Thanh H; có vợ là Mai Thị T3, sinh năm 1981 và có hai con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Tại phiên toà bị cáo có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn H1; vắng mặt.
  2. Anh Vu Văn V1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 31/12/2023, sau khi ăn cỗ và dự đám cưới tại nhà ông Đoàn Văn H2, sinh năm 1961 ở tổ E, thị trấn X, huyện X xong, Đoàn Văn P, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2, Đoàn T4 cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh “Liêng”. Tất cả đồng ý. Phòng đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ gồm 52 quân, các quân bài có thứ tự từ A, 2...10, J, Q, K gồm 04 chất cơ, rô, tép, bích, mặt sau các quân bài màu xanh. Lúc này gia đình nhà ông H2 đã đi ngủ, cả nhóm vào trong gian phòng bếp nhà ông H2 ngồi thành vòng tròn để đánh bạc.

Về cách thức chơi quy định như sau: Các đối tượng sử dụng bộ bài 52 quân và quy định đặt tiền sàn 10.000đ/người/ván. Bắt đầu ván bài, mỗi người chơi sẽ được chia 3 lá bài. Người có bài cao nhất thì thắng và được ăn toàn bộ tiền sàn và tiền tố. Bài cao nhất là “Sáp” gồm ba lá bài giống nhau (ngoài ra còn ăn của mỗi người 50.000 đồng), sau đó đến Liêng gồm ba lá bài liên tiếp nhau (đồng chất thì ăn thêm của mỗi người chơi 30.000 đồng), rồi đến “Ảnh” gồm ba lá bài đầu hình gồm các quân J, Q, hoặc K. Khi không có “Sáp”, “Liêng”, “Ảnh” thì tính điểm từ A, 2, 3,...9 tương đương từ 1 đến 9 điểm, lá bài 10, J, Q, K tính 0 điểm. Khi tổng ba lá bài là 10 thì tính 0 điểm, tổng ba lá bài lớn hơn 20 thì tính là 0 điểm, ai có số điểm cao hơn thì thắng. Sau khi chia bài, ai tự tin bài mình cao nhất sẽ tố, không hạn chế số lần tố, tố thấp nhất là 10.000 đồng/1 ván, tố cao nhất là 50.000 đồng/1 ván. Người thắng ván trước sẽ làm cái chia bài ván sau.

Cả nhóm chơi đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/01/2024 thì bị tổ tuần tra Công an huyện X phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.070.000 đồng; 01 bộ tú lơ khơ 52 quân, có mặt sau màu xanh và 01 bộ tú lơ khơ có vỏ hộp bằng giấy, màu xanh còn nguyên vẹn, chưa qua sử dụng.

Về số tiền sử dụng vào việc đánh bạc quá trình điều tra xác định được như sau:

  • + Khi bắt đầu chơi Đoàn Văn P bỏ ra 1.650.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 80.000 đồng, bị thu giữ trên chiếu 1.570.000 đồng.
  • + Nguyễn Văn Đ bỏ ra 2.200.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 600.000 đồng, bị thu giữ trên chiếu 2.800.000 đồng.
  • + Nguyễn Văn D1 bỏ ra 2.050.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 460.000 đồng, bị thu giữ trên chiếu 1.590.000 đồng.
  • + Vũ Văn C1 bỏ ra 780.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 480.000 đồng, bị thu giữ trên chiếu 300.000 đồng.
  • + Nguyễn Mạnh L2 bỏ ra 750.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 950.000 đồng, bị thu giữ trên chiếu 1.700.000 đồng.
  • + Đoàn T4 bỏ ra 640.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 530.000 đồng, bị thu giữ trên chiếu 110.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Đoàn Văn P, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2, Đoàn T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của bản thân và đồng phạm như đã nêu trên.

Cáo trạng số 23/CT-VKSXT ngày 27/3/2024 của VKSND huyện Xuân Trường truy tố các bị cáo Đoàn Văn P2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2, Đoàn T4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu đánh giá về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về tội danh và hình phạt chính : Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn P2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2, Đoàn T4 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đoàn Văn P2.

Xử phạt bị cáo Đ2 Văn Phòng từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.

Căn cứ vào; Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ; bị cáo Nguyễn Văn D1.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo Nguyễn Văn D1 mỗi bị cáo từ 25-27 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn C1.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn C1 từ 23-25 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Mạnh L2, Đoàn T4.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh L2 và bị cáo Đoàn T4 mỗi bị cáo từ 23 -25 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

-Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo nữa.

-Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền là 8.070.000đ.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi đánh bạc của bản thân là vi phạm pháp luật, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có khiếu nại gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. Về việc kết tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa đều phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng 23 giờ ngày 31/12/2023 đến 0 giờ 30 ngày 01/01/2024, tại nhà ông Đoàn Văn H2 ở tổ E, thị trấn X, huyện X, Đoàn V, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2Đoàn T4 đã có hành vi cùng nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh “Liêng” với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 8.070.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  3. Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi đánh bạc bằng hình chơi “Liêng” của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình, biết được đánh bạc là tệ nạn xã hội có tác động tiêu cực đến từng cá nhân, gia đình và xã hội, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc của mỗi gia đình xong các bị cáo cùng nhau đánh bạc. Do vậy, cần phải xử phạt các bị cáo theo quy định của pháp luật thì mới có tác dụng răn đe đấu tranh phòng ngừa chung.
  4. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền; Trong đó bị cáo P2 giữ vai trò đầu là người trực tiếp đi mua bài tú lơ khơ về để cùng các đối tượng chơi, bị cáo có nhân thân xấu nên bị cáo chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác; Bị cáo Đ và bị cáo D1 có số tiền bỏ ra chơi nhiều hơn so với bị cáo khác nên xếp vai trò sau bị cáo P2 và chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại; Các bị cáo C1, L2, T4 có số tiền bỏ ra chơi ít hơn bị cáo P2, Đường, D1 nên xếp vai trò sau và chịu mức hình phạt thất hơn.
  5. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo; các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Vũ Văn C1 có bố đẻ được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  6. Về hình phạt: Căn cứ vào vị trí vai trò của từng bị cáo Hội đồng xét xử sẽ cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo; các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo P2 và ấn định thời gian thử thách, còn các bị cáo Đ, D1, C1, L2T4 áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính là đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng ngừa chung.
  7. Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
  8. Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Số tiền 8.070.000 đồng cơ quan Công an thu giữ của các bị cáo là tiền đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    Đối với 02 bộ tú lơ khơ 52 quân thu giữ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.

  9. Đối với chủ nhà là vợ chồng ông Đoàn Văn H2, các bị cáo đều khai: khi các đối tượng vào gian phòng bếp chơi thì vợ chồng ông H2 đã đi ngủ, các bị cáo tự ý chơi, không hỏi ý kiến chủ nhà nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với vợ chồng ông H2. CQĐT đã nhắc nhở rút kinh nghiệm đối với vợ chồng ông Đoàn Văn H2 là phù hợp
  10. Án phí: Các bị cáo Đoàn Văn P2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2Đoàn T4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  11. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn P2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2Đoàn T4 phạm tội “Đánh bạc”;

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P3.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P3 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án (09/5/2024) (bị cáo đã bị tạm giữ, tam giam từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024).

    Giao bị cáo Nguyễn Văn P3 cho Ủy ban nhân dân thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn P3 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn ĐNguyễn Văn D1.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ, bị cáo Nguyễn Văn D1 mỗi bị cáo 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

  3. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Văn C1.

    Xử phạt bị cáo Vũ Văn C1 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

  4. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Mạnh L2Đoàn T4.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh L2, bị cáo Đoàn T4 mỗi bị báo 23.000.000đ (hai mươi ba triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

  5. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 8.070.000đ của các bị cáo.
    • Tịch thu cho tiêu hủy 02 bộ bài lơ khơ 52 quân.

    Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 48/THA và biên lai thu tiền số 0000071 ngày 17/4/2024 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).

  6. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

    Buộc các bị cáo Đoàn Văn P2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2Đoàn T4 mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

  7. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đoàn Văn P2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn D1, Vũ Văn C1, Nguyễn Mạnh L2Đoàn T4 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện
  • - Chi cục THADS huyện
  • - Công an huyện
  • - UBND xã
  • - UBND th
  • - Các Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger