Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-PT

Ngày: 03/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Đức.

  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lê Thị Thái Lan.

  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Vương – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 36/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc B đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 20/01/2001 tại tỉnh Phú Yên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: 1 T, Phường F, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chánh T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; Tiền sự: Ngày 04/4/2023, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi gây tổn hại sức khoẻ người khác. Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 19/5/2023, Bùi Nhật H điều khiển xe mô tô biển số 78C1-188.27 đến nhà bà Trần Thị Hồng V tại khu phố P, phường I, thành phố T để đòi tiền lãi vay mà bà V nợ. Đến nơi, khi gặp bà V tại trước sân nhà, H yêu cầu bà V trả tiền nhưng bà V nói không có thì H dùng tay đánh bà V một cái vào mặt, rồi cả hai đi vào phòng khách nói chuyện. Tại đây, H thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 78C1-466.29 trị giá 12.050.000 đồng (xe do Đỗ Ngọc N là con trai bà V đứng tên chủ sở hữu) đang dựng trong phòng khách thì H đòi lấy xe, khi nào trả nợ xong thì H trả xe nhưng bà V không đồng ý. H gọi điện cho Nguyễn Ngọc B nói đến điều khiển giúp xe mô tô của H về. Khoảng 20 phút sau thì B đến nơi, B nói bà V sao nợ tiền, không chịu trả cho H mà cứ hẹn, theo đề nghị của H, Bửu dắt xe mô tô biển số 78C1-466.29 ra ngoài. Trong lúc B đang dắt xe thì bà V cùng với con trai là Đỗ Ngọc T1 (15 tuổi 07 tháng 17 ngày) đến kéo xe lại không cho Bửu dắt đi. Thấy vậy, H đến gạt tay mẹ con bà V khỏi xe và đe dọa đánh nếu còn ngăn cản, làm mẹ con bà V sợ hãi nên không dám giữ xe nữa. Bửu dắt xe mô tô trên đi một đoạn ra khỏi cửa nhà bà V thì dựng xe tại sân rồi B ra đứng tại vị trí xe của H đang dựng ở cổng. Lúc này, bà V và T1 tiếp tục đến giữ xe và năn nỉ H đừng lấy thì H dùng tay đánh 01 cái vào mặt bà V và đe dọa đánh tiếp nếu còn ai dám ngăn cản, H yêu cầu giao giấy tờ xe cho H. Do bị H đánh và thấy H có thái độ hung hãn nên bà V và T1 sợ hãi, không dám cản H lấy xe, còn N lo sợ nên đi vào nhà lấy giấy đăng ký xe đưa cho T1 cầm ra cho H. Do xe mô tô biển số 78C1-466.29 bị hết xăng, không nổ máy được nên B đã điều khiển xe mô tô biển số 78C1-188.27 của H, đẩy xe mô tô biển số 78C1-466.29 do H điều khiển đi đổ xăng. Sau đó, H đem xe mô tô biển số 78C1-466.29 gửi nhờ ở nhà anh V1 Đại Quốc ở phường D, thành phố T, bà Trần Thị Hồng V đến công an báo sự việc.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 39/2024/HS-ST ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tuyên bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm e, khoản 2, Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Bùi Nhật H 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/4/2024, bị cáo Nguyễn Ngọc B có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc B vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc B – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc B tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị Bùi Nhật H, phù hợp với lời khai của những người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 19/05/2023 tại nhà bà Trần Thị Hồng V ở khu phố P, phường I, thành phố T, Bùi Nhật H và Nguyễn Ngọc B đã có hành vi dùng vũ lực (đánh vào mặt) đối với bà Trần Thị Hồng V; đe dọa, uy hiếp bà V và các con ruột của bà V là Đỗ Ngọc T1 (15 tuổi 07 tháng 17 ngày) và Đỗ Ngọc N để chiếm đoạt xe mô tô của N trị giá 12.050.000 đồng kèm theo giấy tờ xe. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm, mới đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân cũng như nguyên nhân, điều kiện phạm tội và áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và áp dụng quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong tình hình hiện nay. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc B – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố: Bị cáo bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Cướp tài sản”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng điểm e, khoản 2, Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Ngọc B phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thái Lan

Nguyễn Việt Hùng

Trần Huy Đức

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND Tp. Tuy Hòa (2);
  • - CQ CSĐT Tp. Tuy Hòa;
  • - VKSND Tp. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS Tp. Tuy Hòa;
  • - P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT, Lưu THS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Huy Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (cướp tài sản)

  • Số bản án: 35/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN - HSPT - NGUYỄN NGỌC B - Cướp TS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger