Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 02/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ma Quốc Thể
  2. Ông Nguyễn Văn Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST- HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST- HS, ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST- QĐ ngày 29/3/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh ngày 27/5/1983 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Cao lan; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Đình C, sinh năm 1939; con bà: Lê Thị M1, sinh năm 1937; Vợ: La Thị T, sinh năm 1986; Có 02 con: Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; Anh, chị, em ruột: Có 09 người, bị cáo là con thứ 09. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đỗ Trọng H, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
  2. Anh Trần Văn C1, sinh năm 1991; trú tại: Thôn X, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên quang.
  3. Anh Đỗ Văn Q, sinh năm 1990; trú tại: Thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2017, Nguyễn Văn M đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ lấy tên là Dịch vụ cầm đồ Thiên Đường tại thôn T, xã V, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Do hám lợi nên trong khoảng thời gian từ tháng 02 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023, Nguyễn Văn M đã sử dụng tiền của cá nhân để cho nhiều người trên địa bàn huyện S vay tiền với lãi suất cao. Để thực hiện hành vi M đã đăng ký mở 02 tài khoản Ngân hàng, gồm: 01 tài khoản số 8101205135798 tại ngân hàng N (A) chi nhánh huyện S và 01 tài khoản số [...] tại ngân hàng thương mại cổ phần C2 (V) chi nhánh T1 để chuyển tiền cho khách vay và thu tiền lãi do khách trả. Khi M cho vay tiền, thì người vay đều trực tiếp đến nhà của M ký vào giấy thỏa thuận cầm cố tài sản (hình thức bán, cho tặng) theo mẫu M đã soạn sẵn và M là người giữ giấy. Trong giấy cầm cố tài sản M không ghi số tiền cho vay và lãi suất cụ thể là bao nhiêu mà chỉ có chữ ký của người vay khi cần thiết M sẽ ghi số tiền sau. M sử dụng số tiền 100.000.000 đồng của mình để cho vay lãi, cụ thể như sau:

1. Cho anh Đỗ Trọng H vay tiền 03 lần:

  • - Ngày 10/02/2023 cho H vay số tiền 5.000.000 đồng, thời hạn vay là 44 ngày. H cầm cố 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển số 22B2 - 052.80, M yêu cầu H viết giấy tờ mua, bán theo mẫu đã soạn sẵn. Hai bên thỏa thuận mức lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày và thu tiền lãi theo tháng (30 ngày). Mười cắt tiền lãi trước 01 tháng số tiền 750.000 đồng và đưa tiền mặt cho H số tiền 4.250.000 đồng. Đến ngày 25/3/2023, H trả cho M số tiền 5.370.000 đồng, trong đó 5.000.000 đồng tiền gốc và 370.000 đồng tiền lãi từ ngày 10/3/2023 đến ngày 25/3/2023. M đã trả lại xe mô tô cho H.
  • Tổng số tiền lãi M đã thu của H là 1.120.000 đồng/ 44 ngày/ số tiền 5.000.000 đồng (tiền lãi được thu theo quy định là: 121.000 đồng; tiền lãi thu lợi bất chính là: 999.000 đồng). Tương đương lãi suất 185,8% /01 năm, gấp 9,29 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Ngày 04/7/2023 cho H vay số tiền 15.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận số ngày vay 97 ngày. H cầm cố cho M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream (không xác định được biển số). Lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, thu theo chu kỳ 15 ngày hoặc 30 ngày. Mười cắt tiền lãi trước số tiền 1.125.000 đồng và đưa tiền mặt cho H số tiền 13.875.000 đồng. H đã trả tiền lãi và gốc cho M như sau:
    • + Ngày 19/7/2023, H chuyển khoản trả cho M số tiền lãi 1.225.000 đồng đến tài khoản số 8101205135798 ngân hàng A.
    • + Ngày 04/8/2023, H chuyển khoản trả cho M số tiền lãi 2.450.000 đồng đến tài khoản số 8101205135798 ngân hàng A.
    • + Ngày 04/9/2023, H chuyển khoản trả cho M số tiền lãi 2.050.000 đồng đến tài khoản số 8101205135798 ngân hàng A.
    • + Ngày 08/10/2023, H chuyển khoản trả cho M số tiền gốc 15.000.000 đồng đến tài khoản số 8101205135798 ngân hàng A. M đã trả lại xe mô tô cho H.
  • Tổng số tiền lãi M đã thu của H là 6.850.000 đồng/ 97 ngày/ số tiền gốc 15.000.000 đồng (tiền lãi được thu theo quy định là 797.000 đồng; tiền lãi thu lợi bất chính là: 6.053.000 đồng). Tương đương lãi suất 171,8 % /01 năm, gấp 8,59 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Ngày 29/11/2023 cho H vay số tiền 20.000.000 đồng, tiền lãi tính theo chu kỳ 15 ngày cho đến khi trả nợ. H cầm cố 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn xanh đen, biển số 22S1-499.42. Lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày. Mười cắt tiền lãi trước 15 ngày số tiền 1.500.000 đồng và đưa tiền mặt cho H 18.500.000 đồng. Đến thời điểm bị phát hiện hành vi cho vay lãi nặng, H chưa trả Mười số tiền vay 20.000.000 đồng. M chưa trả xe mô tô cho H.
  • Tổng số tiền lãi M đã thu của H là 1.500.000 đồng/ 15 ngày/ số tiền gốc 20.000.000 đồng (tiền lãi được thu theo quy định là 164.000 đồng; tiền lãi thu lợi bất chính là 1.336.000 đồng). Tương đương lãi suất 182,5% /01 năm, gấp 9,12 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Cho anh Trần Văn C1 vay tiền 02 lần:

  • - Ngày 16/11/2023 cho C1 vay số tiền 70.000.000 đồng. Cảnh cầm cố chiếc xe ô tô tải biển số 37V - 3027, M yêu cầu C1 viết giấy tờ mua, bán theo mẫu đã soạn sẵn. Mười thu tiền lãi 5000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày và thu tiền lãi theo chu kỳ 15 ngày. M sử dụng tài khoản số 8101205135798 ngân hàng A, chuyển đến tài khoản số [...] ngân hàng Q1 của C1 số tiền 40.000.000 đồng. Mười cắt tiền lãi trước 15 ngày là 5.250.000 đồng và đưa cho C1 24.750.000 đồng tiền mặt. Đến ngày 19/11/2023 C1 chuyển khoản trả cho M số tiền 70.000.000 đồng tiền gốc (Trong đó: 20.000.000 đồng C1 nhờ anh Đỗ Trọng H, sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang chuyển đến tài khoản số 8101205135798 ngân hàng A và chuyển khoản 50.000.000 đồng đến tài khoản số [...] ngân hàng V của M. M đã trả lại xe ô tô tải cho C1.
  • Tổng số tiền lãi M đã thu của C1 là 5.250.000 đồng/ 15 ngày/ số tiền gốc 70.000.000 đồng (tiền lãi được thu theo quy định là 575.000 đồng; tiền lãi thu lợi bất chính là 4.675.000 đồng). Tương đương lãi suất 182,5 % /01 năm, gấp 9,12 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Ngày 11/12/2023 cho C1 vay số tiền 50.000.000 đồng. Cảnh cầm cố cho M chiếc xe ô tô tải biển số 20C - 150.89, M yêu cầu anh C1 viết giấy tờ mua, bán theo mẫu đã soạn sẵn. Mười thu tiền lãi của C1 5000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày và thu theo chu kỳ 15 ngày. M sử dụng tài khoản số [...] ngân hàng V, chuyển đến tài khoản số [...] ngân hàng MB của Cảnh số tiền 20.000.000 đồng. Mười cắt tiền lãi trước 15 ngày là 3.750.000 đồng và đưa 26.250.000 đồng tiền mặt cho C1. Cảnh chưa trả tiền gốc đã vay cho M.
  • Tổng số tiền lãi M đã thu của C1 là 3.750.000 đồng/ 15 ngày/ số tiền gốc 50.000.000 đồng (tiền lãi được thu theo quy định là 411.000 đồng; tiền lãi thu lợi bất chính là 3.339.000 đồng). Tương đương lãi suất 182,5% /01 năm, gấp 9,12 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Cho anh Đỗ Văn Q vay tiền 02 lần:

  • - Ngày 24/11/2023 cho Q vay số tiền 100.000.000 đồng. Q cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning biển số 22A-061.96, M yêu cầu Q viết giấy tờ mua bán theo mẫu đã soạn sẵn và thu tiền lãi của Q 5000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày, thu theo chu kỳ 15 ngày. M sử dụng tài khoản số 8101205135798 ngân hàng A, chuyển số tiền 20.000.000 đồng và sử dụng tài khoản số [...] ngân hàng V chuyển số tiền 66.000.000 đồng đến tài khoản số 0907668668668 ngân hàng MB của Q. M cắt lãi trước số tiền 7.500.000 đồng và đưa 6.500.000 đồng tiền mặt cho Q. Trong ngày 24/11/2023 Q chuyển khoản trả cho M số tiền gốc 100.000.000 đồng đến tài khoản số [...] ngân hàng V của M. M đã trả lại xe ô tô cho Q.
  • Tổng số tiền lãi M đã thu của Q là 7.500.000 đồng/ 15 ngày/ số tiền gốc 100.000.000 đồng (tiền lãi được thu theo quy định là 822.000 đồng; tiền lãi thu lợi bất chính là 6.678.000 đồng). Tương đương lãi xuất 182,5% /01 năm, gấp 9,12 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Ngày 05/12/2023 cho Q vay số tiền 80.000.000 đồng. Q cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA Morning biển số 22A-061.96, M yêu cầu Q viết giấy tờ mua bán theo mẫu đã soạn sẵn và thu tiền lãi của Q 5000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày, thu theo chu kỳ 30 ngày. M sử dụng tài khoản số [...] ngân hàng V, chuyển đến tài khoản số 0907668668668 ngân hàng MB của Q số tiền 68.000.000 đồng, M đã cắt lãi trước số tiền 12.000.000 đồng. Đến ngày 08/12/2023 Q chuyển khoản trả cho M số tiền gốc 80.000.000 đồng đến tài khoản số [...] ngân hàng V của M. M trả lại xe ô tô cho Q.
  • Tổng số tiền lãi M đã thu của Q là 12.000.000 đồng/ 30 ngày/ số tiền gốc 80.000.000 đồng (tiền lãi được thu theo quy định là 1. 315.000 đồng; tiền lãi thu lợi bất chính là 10.685.000 đồng). Tương đương lãi suất 182,5% /01 năm, gấp 9,12 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Cáo trạng số 31/CT-VKSSD, ngày 14/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Văn M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự; Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 50.000.000đ đến 70.000.000đ. Không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền gốc do bị cáo nộp 30.000.000đ, anh H nộp 18.500.000đ, anh C1 nộp 46.250.000đ. Tổng cộng 94.750.000đ (Chín mươi tư triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
  • + Truy thu của bị cáo sung quỹ nhà nước: Số tiền gốc còn thiếu là 5.250.000đ (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và số tiền lãi thu theo quy định 4.205.000₫ (Bốn triệu hai trăm linh năm nghìn đồng). Tổng cộng 9.455.000₫ (Chín triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
  • + Bị cáo M có trách nhiệm trả lại cho anh H, C1, Q số tiền lãi thu lợi bất chính, cụ thể: Trả lại cho anh Đỗ Trọng H 8.388.000đ; anh Trần Văn C1 8.014.000đ; anh Đỗ Văn Q 17.363.000đ.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX buộc bị cáo nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 12/2023, Nguyễn Văn M đã sử dụng số tiền 100.000.000 đồng của mình cho 03 người vay với mức lãi suất 5000 đồng/1.000.000 đồng/ 01 ngày. Tổng số tiền lãi thu được là 37.970.000 đồng (Trong đó: Số tiền lãi theo quy định là 4.205.000 đồng; Số tiền lãi thu lời bất chính là 33.765.000 đồng). Tương đương lãi suất 171,8% /01 năm, gấp 8,59 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể như sau:

1. Cho anh Đỗ Trọng H vay tiền 03 lần:

  • - Ngày 10/02/2023 cho H vay số tiền 5.000.000 đồng, số ngày vay là 44 ngày. Số tiền lãi M đã thu của H là 1.120.000 đồng.
  • - Ngày 04/7/2023 cho H vay số tiền 15.000.000 đồng, số ngày vay là 97 ngày. Số tiền lãi M đã thu của H là 6.850.000 đồng.
  • - Ngày 29/11/2023 cho H vay số tiền 20.000.000 đồng, số ngày vay là 15 ngày. Số tiền lãi M đã thu của H là 1.500.000 đồng.

2. Cho anh Trần Văn C1 vay tiền 02 lần:

  • - Ngày 16/11/2023 cho C1 vay số tiền 70.000.000 đồng, số ngày vay là 15 ngày. Số tiền lãi M đã thu của C1 là 5.250.000 đồng.
  • - Ngày 11/12/2023 cho C1 vay số tiền 50.000.000 đồng, số ngày vay là 15 ngày. Số tiền lãi M đã thu của C1 là 3.750.000 đồng.

3. Cho anh Đỗ Văn Q vay tiền 02 lần:

  • - Ngày 24/11/2023 cho Q vay số tiền 100.000.000 đồng, số ngày vay là 15 ngày. Số tiền lãi M đã thu của Q là 7.500.000 đồng.
  • - Ngày 05/12/2023 cho Q vay số tiền 80.000.000 đồng, số ngày vay là 30 ngày. Số tiền lãi M đã thu của Q là 12.000.000 đồng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Nguyễn Văn M về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân. tội phạm được thực hiện theo lỗi cố ý. Khi phạm tội bị cáo biết rõ hành vi cho vay tiền với lãi suất cao như vậy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm nhưng vì vụ lợi cá nhân vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Động cơ phạm tội là vụ lợi nhằm thu lợi bất chính cho bản thân. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện nộp một phần tiền để khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị xử phạt bị cáo bằng hình phạt tiền của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận đề nghị trên.

Do xử phạt bị cáo bằng hình thức phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và các vấn đề có liên quan: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ:

  • + 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision, màu sơn xanh đen biển số đăng ký 22S1 - 499.42 xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision. Ngày 14/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại cho Đỗ Trọng H là chủ sở hữu.
  • + 01 xe ô tô tải nhãn hiệu TRUONG GIANG, màu sơn xanh biển số đăng ký 20C-150.89 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải nhãn hiệu TRUONG GIANG; 01 giấy chứng nhận kiểm định số DA 5318604 của xe ô tô tải nhãn hiệu TRUONG GIANG. Ngày 14/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã trả lại cho Trần Văn C1 là chủ sở hữu.
  • + 01 giấy bán, cho tặng xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision; 01 giấy bán, cho tặng xe ô tô tải nhãn hiệu TRUONG GIANG; 01 bản photo căn cước công dân của Đỗ Trọng H; 01 bản photo căn cước công dân của Trần Văn C1. Lưu theo hồ sơ vụ án.

Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

- Khoản tiền 100.000.000đ, bị cáo M dùng để cho Đỗ Trọng H, Trần Văn C1, Đỗ Văn Q vay lãi nặng là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Quá trình điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn M 30.000.000đ, Đỗ Trọng H 18.500.000đ, Trần Văn C1 46.250.000đ, tổng cộng 94.750.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tiền bị cáo dùng để cho các đối tượng vay lãi nặng nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Truy thu của bị cáo số tiền gốc còn thiếu là 100.000.000₫ - 94.750.000₫ = 5.250.000đ (năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

- Đối với khoản tiền bị cáo Nguyễn Văn M thu lãi của các đối tượng là 37.970.000₫ (trong đó thu theo quy định 4.205.000đ, thu vượt quá 33.765.000₫). Cụ thể:

  1. Số tiền lãi M đã thu của H 03 lần, tổng số tiền 9.470.000đ (trong đó thu theo quy định 1.082.000đ, thu vượt quá quy định 8.388.000₫).
  2. Số tiền lãi M đã thu của C1 02 lần, tổng số tiền 9.000.000đ (trong đó thu theo quy định 986.000đ, thu vượt quá 8.014.000₫).
  3. Số tiền lãi M đã thu của Q 02 lần, tổng số tiền 19.500.000đ (trong đó thu đúng quy định 2.137.000đ, thu vượt quá 17.363.000₫).

HĐXX xét thấy số tiền lãi thu trong mức quy định của các lần cho các đối tượng vay là 4.205.000đ là tiền thu từ tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu của bị cáo để sung quỹ nhà nước. Tiền thu lãi vượt quá quy định 33.765.000đ (ba mươi ba triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Bị cáo M có trách nhiệm trả lại cho anh H, C1, Q, cụ thể: Trả lại cho anh Đỗ Trọng H 8.388.000đ; anh Trần Văn C1 8.014.000đ; anh Đỗ Văn Q 17.363.000đ.

[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự có giá ngạch. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106; Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 579, 581, 357 Bộ luật Dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn M 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền gốc do bị cáo nộp 30.000.000đ, anh H nộp 18.500.000đ, anh C1 nộp 46.250.000đ. Tổng cộng 94.750.000đ (Chín mươi tư triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).

- Truy thu của bị cáo sung quỹ nhà nước: Số tiền gốc còn thiếu là 5.250.000₫ (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và số tiền lãi thu theo quy định 4.205.000₫ (Bốn triệu hai trăm linh năm nghìn đồng). Tổng cộng 9.455.000₫ (Chín triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

3. Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo M có trách nhiệm hoàn trả lại cho anh H, C1, Q số tiền thu lãi vượt quá quy định là 33.765.000đ, cụ thể: Trả lại cho anh Đỗ Trọng H 8.388.000đ (tám triệu ba trăm tám mươi tám nghìn đồng); anh Trần Văn C1 8.014.000đ (tám triệu không trăm mười bốn nghìn đồng); anh Đỗ Văn Q 17.363.000đ (mười bảy triệu ba trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

Khoản tiền phải trả kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh H, C1, Q có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, nếu bị cáo chậm trả thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.688.250đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Tổng cộng 1.888.250đ (một triệu tám trăm tám mươi tám nghìn hai trăm năm mươi đồng).
  • - Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án (đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - UBND xã Vinh Lợi;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N.V.M cho 03 người vay lãi nặng dưới hình thức cầm đồ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger