Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 30/10/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Dung.

Thẩm phán:

Bà Lê Thị Tân

Bà Lê Thị Phương Thanh

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa: Bà Mai Thị Xuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2024/TLPT-DSPT ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXX - PT ngày 18 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trương Văn D, sinh năm 1932. Vắng mặt

Địa chỉ: thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Bà Kiều Thị L, sinh năm 1956. Có mặt

Địa chỉ: thôn H, xã M, huyện H, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 25/6/2024, Biên bản ghi lại lời khai ngày 28/6/2024 và lời khai tại phiên toà của nguyên đơn ông Trương Văn D thể hiện như sau:

    Về hôn nhân: Ông Trương Văn D và bà Kiều Thị Liên kết H với nhau năm 2022, trên cơ sở tự nguyện, có giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã M, huyện H cấp ngày 15/7/2022. Sau khi đăng ký kết hôn thì nhà ai ở nhà đó, bà L ở nhà riêng của bà còn ông D sống cùng với con gái riêng của ông, vợ chồng không ăn chung nhưng buổi tối ông đến nhà bà L ngủ. Sau một thời gian thì giữa ông và bà L xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà L đòi ông làm nhà ở riêng và luôn yêu cầu ông đưa tiền cho bà, ông không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu của bà L ngoài ra từ ngày đăng ký kết hôn bà L chưa nấu cho ông ăn một bữa nào. Nay ông xét thấy tình cảm giữa ông và bà L thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn bà L.

    Về con: Ông Trương Văn D và bà Kiều Thị L không có con chung.

    Về tài sản và công nợ: Ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Theo Biên bản ghi lại lời khai ngày 28/6/2024 và lời trình bày tại phiên toà của bị đơn bà Kiều Thị L thể hiện như sau:

    Về hôn nhân: Bà L và Ông Trương Văn D kết hôn với nhau năm 2022 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H. Sau khi kết hôn hai ông bà sống ở hai nhà khác nhau nhưng buổi tối ông D đến nhà bà ngủ, từ khi kết hôn đến nay hai ông bà không có mâu thuẫn gì. Nguyên nhân dẫn đến việc ông D làm đơn ly hôn là do con gái ông D xúi giục và làm đơn cho ông D. Bà xét thấy tình cảm giữa bà và ông D vẫn còn nên bà không đồng ý ly hôn.

    Về con: Bà L và ông D không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

    Về tài sản, công nợ: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 103/2024/HNGĐ-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Xử cho Ông Trương Văn D được ly hôn bà Kiều Thị L.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

  • Ngày 16/8/2024, bà Kiều Thị L kháng bản án sơ thẩm với nội dung: Ông bà còn thương nhau, do con gái ông D tự làm đơn ly hôn ông, bà không biết gì cả. Nếu ông D muốn ly hôn thì phải bồi thường giá trị cho bà.
  • Tại phiên tòa: Ông D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
  • Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:
    • Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
    • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS quyết định theo hướng: Bác kháng cáo của bà Kiều Thị L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 103/2024/HNGĐ-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
    • Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án để miễn án phí HNGĐ phúc thẩm cho bà L vì bà là người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bà Kiều Thị L kháng cáo trong hạn luật nên kháng cáo được thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Xét kháng cáo của bà Kiều Thị L:

    Ông Trương Văn D và bà Kiều Thị L đều thừa nhận hai bên kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã M, huyện H cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 15/7/2022 như vậy hôn nhân giữa Ông D và bà L là hôn nhân hợp pháp.

    Bà Kiều Thị L kháng cáo cho rằng ông D và bà còn thương nhau, do con gái ông D tự làm đơn ly hôn ông, bà không biết gì cả. Nếu ông D muốn ly hôn thì phải bồi thường giá trị cho bà. Tuy nhiên, ông D và bà L đều thừa nhận sau khi đăng ký kết hôn thì cả hai ông bà không ăn cơm chung mà chỉ buổi tối ông D đến ngủ cùng với bà L. Ông D cho rằng bà L đòi hỏi ông chu cấp tiền và làm nhà ở riêng, do ông không đáp ứng được yêu cầu của bà L nên giữa hai ông bà không còn tình cảm với nhau như trước nữa. Ông xét thấy tình cảm giữa ông và bà không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn bà L. Việc ông D thừa nhận muốn ly hôn tại các bản tự khai, hoà giải và lời trình bày công khai tại các phiên toà thể hiện ý chí của ông muốn ly hôn bà L chứ không bị ai ép buộc.

    Bà L cho rằng ông bà vẫn còn tình cảm, nhưng xét thời điểm hai ông bà kết hôn tuổi đã cao, mục đích bầu bạn, chăm sóc, nương tựa nhau của tuổi già nhưng thực tế hai ông bà không chung sống hàng ngày cùng nhau, mà chỉ buổi tối ông D qua nhà bà L ngủ. Giữa hai ông bà không chung sống đúng theo nghĩa của cuộc sống hôn nhân mà mỗi người có cuộc sống riêng, điều đó thể hiện mục đích hôn nhân giữa ông D và bà L không đạt được. Vì vậy, án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông D là phù hợp.

    Về yêu cầu của bà L buộc ông D phải bồi thường cho bà nếu ly hôn thì thấy rằng hôn nhân là hai người yêu thương và tự nguyện kết hôn với nhau. Khi một trong hai bên hay cả hai bên tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được thì Toà án giải quyết cho các bên ly hôn.

    Theo điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình quy định Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn: “Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình”, Trong vụ án này, bà L 68 tuổi còn trẻ, khoẻ hơn ông D và cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh bà bệnh tật, đau ốm. Ông D đã 92 tuổi, đang phải sống cùng con, nhờ con cái chăm sóc, không có khả năng cấp dưỡng.

Từ những phân tích trên, các nội dung kháng cáo của bà Kiều Thị L là không có căn cứ chấp nhận.

  1. Về án phí: Miễn án phí HNGĐ phúc thẩm cho bà L do bà là người cao tuổi theo quy định tại Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Toà án.

    Không chấp nhận kháng cáo của bà Kiều Thị L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 103/2024/HNGĐ-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Xử:

    Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho Ông Trương Văn D được ly hôn bà Kiều Thị L.

  3. Về án phí: Miễn án phí HNGĐ phúc thẩm cho bà Kiều Thị L.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Hậu Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trương Văn D yêu cầu ly hôn bà Kiều Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger