Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 35/2025/KDTM-PT

Ngày 16/12/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình
  • Bà Hoàng Thị Hải Hường
  • - Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2025/TLPT- KDTM ngày 22/10/2025 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 04/2025/KDTM-ST, ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 48/2025/QĐPT-KDTM ngày 06 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty cổ phần M; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, phường C, thành phố Hà Nội.

  • - Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T - Giám đốc.
  • - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Minh T1- Chuyên viên xử lý nợ.
  • Có mặt;

Bị đơn: 1. Ông Phạm Văn G, sinh năm 1981.

2. Bà Trần Thị T2, sinh năm 1987.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

1. Ông Phạm Tiến Q, sinh năm 1981. Vắng mặt;

2. Bà Đinh Thị Diệu L, sinh năm 1992. Có mặt;

Cùng địa chỉ: Số F N, phường K, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị T3, sinh năm 1961, nơi cư trú: thôn T, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt;

Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn G và bà Trần Thị T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

* Đại diện nguyên đơn là ông Bùi Đức T4 trình bày:

Ông Phạm Văn G và bà Trần Thị T2 vay của Ngân hàng TMCP VNTV (V1) theo các hợp đồng, văn bản tín dụng sau:

1. Hợp đồng (viết tắt là HĐ) cho vay hạn mức số LNLN2302168377085 ngày 02/03/2023 và kèm theo khế ước nhận nợ:

Số tiền vay là 2.900.000.000đ, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh nhà hàng ăn uống, lãi suất trong hạn là 12,5%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 3 tháng kể từ ngày giải ngân (Thời gian cố định). Hết thời gian cố định, lãi suất vay trong hạn sẽ được điều chỉnh 01 tháng/1 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 4,2%/năm. Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn (lãi suất quá hạn) bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.2. Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 03/03/2023:Số tiền giải ngân là 100.000.000đ, mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, loại thẻ khách hàng được phát hành là thẻ VISA Super Shopee P. Đề nghị cấp thẻ ngày 15/02/2023 và phát hành thẻ ngày 03/03/2025. Lãi suất trong hạn là 3,29%/năm, lãi suất quá hạn là 4,94%/năm. Lãi suất đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất này được áp kể từ thời điểm khoản tiền lãi của Bên vay bị chuyển quá hạn đến khi bên vay thanh toán hết khoản tiền lãi quá hạn.3. Tài sản bảo đảm cho khoản vay hạn mức số LN2302168377085 gồm:Toàn bộ Quyền sử dụng đất (viết tắt là QSDĐ) và tài sản gắn liền với thửa đất số 766 tờ bản đồ số 28, tại xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh), theo Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 750724, Số vào sổ cấp GCN; CS

10674 do Sở tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 20/07/2022 cho ông Phạm Văn G (viết tắt làthửa đất số 766); Chi tiết theo HĐ thế chấp QSDĐ số công chứng: 0206/HĐTC, quyển số: 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 24/02/2023 tại Văn phòng C1. Toàn bộ QSDĐ và tài sản gắn liền với thửa đất số 765 tờ bản đồ số 28, tại xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh), theo Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 107365, Số vào sổ cấp GCN; CS 10530 do Sở tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 25/02/2022 cho ông Phạm Văn G (viết tắt làthửa đất số 765); Chi tiết theo HĐ thế chấp QSDĐ số công chứng 0207/HĐTC, quyển số; 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1.Quá trình thực hiện HĐ: Ông G và bà T2 (viết tắt là Bị đơn) đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/06/2023. Ngày 29/12/2023, VPBankđã bán khoản nợ của Bị đơn cho công ty cổ phần M (viết tắt là Nguyên đơn) theo HĐ mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS, 02/2023/VPB-MARS và Phụ lục đính kèm ký giữa V1 và Nguyên đơn. Theo đó, V1 bán cho Nguyên đơn các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các HĐ tín dụng/HĐ cho vay mà Bị đơn đã ký với V1. Việc mua bán nợ đã được V1 gửi thông báo cho Bị đơntheo dịch vụ chuyển phát nhưng không phát được do Bị đơnđã thay đổi địa chỉ nhưng không thông báo cho V1. Nay Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả gốc và lãi tạm tính đến ngày 21/8/2025 là 4.352.575.555đ (trong đó: Nợ gốc = 2.999.324.483đ, lãi trong hạn = 30.472.191đ, lãi quá hạn =1.301.793.593đ. Phạt chậm trả lãi = 20.985.288đ).Về việc Bị đơn cho rằng V1 không thông báo về việc mua bán nợ với Nguyên đơn và Nguyên đơn không thông báo về việc khởi kiện cho Bị đơn thì V1 và công ty M đều đã gửi văn bản thông báo về việc bán khoản nợ cũng như thông báo về việc khởi kiện cho Bị đơn biết qua dịch vụ chuyển phát. Bị đơn cho rằng V1 khi giải ngân đã tự ý giữ lại 4% trên tổng giá trị khoản vay là không đúng. Vì khi giải ngân, V1 đã có bảng kê giải ngân cho Bị đơnvới đầy đủ số tiền vay được thể hiện thông qua 02 bút toán chuyển tiền trong bảng sao kê chuyển tiền, nếu ông G bà T2 cho rắng V1 đã tự giữ lại 4% tổng giá trị khoản vay thì phải có chứng cứ chứng minh. Về đề nghị được hỗ trợ giảm nợ gốc và lãi với tổng số tiền 500.000.000₫ của Bị đơn, Nguyên đơn không đồng ý do đây là số tiền lớn, Nguyên đơn chỉ đồng ý miễn giảm cho Bị đơn toàn bộ phần phạt chậm trả lãi. Nay Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết như sau: 1. Buộc Bị đơn phải thanh toán cho Nguyên đơn tổng số tiền tạm tính đến ngày 21/08/2025 là: 4.331.590.267₫. Trong đó: Nợ gốc là: 2.999.324.483đ, lãi trong hạn: 30.472.191đ; lãi quá hạn: 1.301.793.593đ; rút yêu cầu tính lãi phạt chậm trả. 2. Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong (các) HĐ tín dụng, khế ước nhận nợ (nếu có) và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày Bị đơnthanh toán hết nợ.3. Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật mà Bị đơn không trả nợ đầy đủ thì Nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Nguyên đơn, cụ thể: Toàn bộ QSDĐ và tài sản gắn liền với thửa đất số 766 và thửa đất số 765. 4. Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả

nợ, Nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của Bị đơn để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Nguyên đơn cho đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ. 5. Bị đơn phải chịu án phí và các chi phí tố tụng liên quan.

*Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn là bà Đinh Thị Diệu L và ông Phạm Tiến Q cùng thống nhất trình bày:

1. Bị đơn vay của V2 tổng số tiền 3.000.000.000₫ gồm HĐ số LN2302168377085 ngày 02/03/2023 số tiền 2.900.000.000đ và Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm HĐ cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; giấy đề nghị kiêm HĐ mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 03/03/2023 với số tiền là 100.000.000đ. Tài sản đảm bảo cho các khoản vay nêu trên là:

  • - Toàn bộ QSDĐ và tài sản gắn liền với thửa đất số 766; theo HĐ thế chấp số 0206/HĐTC, quyển số: 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 24/02/2023 tại Văn phòng C1.- Toàn bộ QSDĐ và tài sản gắn liền với thửa đất số 765, theo HĐ thế chấp số 0207/HĐTC, quyển số; 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1.Quá trình ký HĐ vay và HĐ thế chấp, Bị đơnkhông được V1 cung cấp cho bất kỳ văn bản, giấy tờ, HĐ nào. Khi giải ngân thì V1 đã cắt và giữ lại 4% trên tổng giá trị khoản vay. Tức trên thực tế Bị đơn không được nhận đủ số tiền vay theo HĐ hai bên đã ký. Về tài liệu, chứng cứ để chứng minh V1 đã cắt và giữ lại 4% thì Bị đơn có để cung cấp. Tính đến nay, Bị đơn đã trả cho V1 và Nguyên đơn tổng cộng là 73.809.107đ tiền lãi.

2. Về tư cách khởi kiện của Nguyên đơn: HĐ tín dụng của Bị đơn với V1 là quan hệ pháp luật dân sự. Hiện tại Bị đơn đang là bên có nghĩa vụ phải trả nợ gốc và lãi phát sinh theo HĐ. Trong quá trình này Bị đơn không nhận được bất cứ văn bản nào của V1 về việc chuyển giao quyền của V1 sang Nguyên đơn(bên thứ 3). V1 và Nguyên đơn đã vi phạm khoản 2 Điều 365 Bộ luật dân sự. Do đó Bị đơn không đồng ý với tư các khởi kiện của Nguyên đơn vì Bị đơn không liên quan và không nợ Nguyên đơn.Căn cứ theo quy định của pháp luật về chuyển giao quyền nghĩa vụ sang bên thứ ba tại Điều 365 Bộ luật dân sự, Nguyên đơn khi nhận thế quyền chuyển giao phải có sự đồng ý của Bị đơn.3. Về khoản vay bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid- 19 và các biện pháp hỗ trợ của Chính phủ đối với người vay theo HĐ tín dụng.- Căn cứ Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 của Ngân hàng N1 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19; Thông tư số 03/2021/TT-NHNN, ngày 02/4/2021 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid - 19; Thông tư số: 02/2023/TT-NHNN ngày 23 tháng 4 năm 2023 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi

nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng.Khoản vay này của Bị đơn vay trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, Nhà nước áp dụng chính sách giãn cách xã hội để phòng chống dịch. Do vậy, Bị đơn vay tiền với mục đích kinh doanh nhà hàng nên bị ảnh hưởng rất lớn, mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, V1 không áp dụng các biện pháp hỗ trợ cho Bị đơn. Vì vậy, V1 chuyển giao khoản nợ sang Nguyên đơn là xâm hại quyền lợi của Bị đơn. 4. Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự thìNguyên đơn phải gửi cho Bị đơn bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Nhưng Bị đơn không nhận được tài liệu của Nguyên đơn.5. Bà L và ông Q đề nghị: Bị đơn xác nhận và cam kết có phương án trả nợ cho V1 và Nguyên đơn nếu Nguyên đơn có đủ giấy tờ pháp lý về việc mua bán nợ. Đề nghị Nguyên đơn và V1 thực hiện áp dụng các biện pháp hỗ trợ của chính phủ và ngân hàng N1 đối với khoản vay trên của Bị đơn và miễn giảm nợ lãi quá hạn và lãi chậm trả, tổng số tiền là 500.000.000đ. Bị đơn cam kết trong khoảng thời gian nhất định (do hai bên thoả thuận) sẽ thanh toán 100% số nợ (sau khi trừ các khoản miễn, giảm lãi, phạt) cho Nguyên đơn và V1.Nếu Nguyên đơn không chấp nhận đề nghị miễn giảm của Bị đơn thì đề nghị Tòa án xem xét lại quá trình mua bán nợ của Nguyên đơn và V1. Đồng thời xem xét lại cách tính lãi của Nguyên đơn theo đúng HĐ tín dụng, đối trừ 4% tổng giá trị khoản vay V1 tự ý giữ lại vào số tiền phải trả nợ cho Bị đơn.Với nội dung trên Bản án số 04/2025/KDTM-ST, ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 9 Bắc Ninh đã căn cứ Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 259 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 288, 357, 463, 466, 468, 688 Bộ luật dân sự; Điều 100, Điều 103, Điều 209 và Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 27,37,59,60 Luật HNGĐ; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 của Thống đốc ngân hàng N1;Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13 tháng 3 năm 2020 của Ngân hàng N1; Thông tư số 03/2021/TT-NHNN, ngày 02/4/2021 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13 tháng 3 năm 2020 của Thống đốc Ngân hàng N1; thông tư số: 02/2023/TT-NHNN ngày 23 tháng 4 năm 2023 của Thống đốc Ngân hàng N1 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Xử:1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.2. Buộc Bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho Nguyên đơn tạm tính đến ngày 21/8/2025 tổng cộng của HĐ cho vay hạn mức, khế ước nhận nợ và Giấy đề nghị kiêm HĐ cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, giấy đề nghị kiêm HĐ mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử là: 4.331.590.267đ (Bốn tỷ, ba trăm ba mươi mốt triệu, năm trăm chín mươi nghìn, hai trăm sáu mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc: 2.999.324.483đ, lãi trong hạn: 30.472.191đ, lãi quá hạn: 1.301.793.593đ. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi chậm trả, xử lý tài sản thế chấp, án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 29/8/2025, Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị sửa án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Cụ thể: Bị đơn trả cho Nguyên đơn số tiền còn thiếu là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Án phí: Bị đơn xin chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 BLTTDS: Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Bị đơn trả cho Nguyên đơn số tiền còn thiếu là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Bị đơn nộp trong thời hạn luật định nên được Tòa án xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Nội dung:

Giữa V1 và Bị đơn đã ký các khoản vay tín dụng và HĐ thế chấp, theo đó Bị đơn vay của V2 tổng số tiền 3.000.000.000₫ gồm HĐ số LN2302168377085 ngày 02/03/2023 số tiền 2.900.000.000đ và Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn; giấy đề nghị kiêm HĐ cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; giấy đề nghị kiêm HĐ mở và sử dụng tài khoản thanh toán, dịch vụ ngân hàng điện tử ký ngày 03/03/2023 với số tiền là 100.000.000đ. Tài sản đảm bảo cho các khoản vay nêu trên là:

  • - Toàn bộ QSDĐ và tài sản gắn liền với thửa đất số 766; theo HĐ thế chấp số 0206/HĐTC, quyển số: 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 24/02/2023 tại Văn phòng C1.
  • - Toàn bộ QSDĐ và tài sản gắn liền với thửa đất số 765, theo HĐ thế chấp số 0207/HĐTC, quyển số; 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1. Các nội dung trên được V1, Nguyên đơn và Bị đơn xác nhận là đúng nên được coi là chứng cứ theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự và không phải chứng minh.

[3] Xét kháng cáo của Bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:Quá trình thực hiện HĐ: Do Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán với VPBanktừ ngày 15/6/2023. Vì vậy, ngày 29/12/2023, V1 đã bán toàn bộ khoản nợ của Bị đơn cho Nguyên đơn.Sau khi xét xử sơ thẩm, Bị đơn đã thanh toán trả Nguyên đơn một phần

khoản nợ. Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn và Bị đơn đã hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án. Cụ thể: Bị đơn trả cho Nguyên đơn số tiền còn nợ là 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng). Bị đơn tự nguyện chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Xét thấy, việc thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 148, Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; xử: Sửa bản án sơ thẩm.

1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Ông Phạm Văn G và bà Trần Thị T2 trả cho Công ty cổ phần MARS do ông Bùi Công T – Giám đốc đại diện là 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa trả thì hàng tháng người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Phạm Văn G và bà Trần Thị T2 không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Công ty cổ phần M có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ gồm:

Tài sản 1: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với Thửa đất số 766 tờ bản đồ số 28, tại đại chỉ; Xã Q, Huyện L, Bắc Ninh (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh), theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DG 750724, Số vào sổ cấp GCN; CS 10674 do Sở tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 20/07/2022 cho ông Phạm Văn G.

Tài sản 2: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với Thửa đất số 765 tờ bản đồ số 28, tại đại chỉ; Xã Q, Huyện L, Bắc Ninh (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh), theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 107365, Số vào sổ cấp GCN; CS 10530 do Sở tài Nguyên và Môi Trường tỉnh B cấp ngày 25/02/2022 cho ông Phạm Văn G.

3. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ khoản nợ trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu dư, Công ty cổ

phần M có nghĩa vụ trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần M số tiền thiếu.

4. Án phí: Ông Phạm Văn G và bà Trần Thị T2 phải chịu 5.000.000 đồng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm. Xác nhận ông G và bà T2 đã nộp 4.000.000 đồng tạm ứng án phí tại các biên lai số BLTU/24/0000564 và số BLTU/24/0000565 cùng ngày 10/9/2025 tại Thi hành án tỉnh Bắc Ninh. Ông G và bà T2 còn phải nộp 1.000.000 đồng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Trả lại Công ty cổ phần M 53.541.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số: 00001265 ngày 20/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh (nay là Phòng thi hành án khu vực 9, tỉnh Bắc Ninh).

5. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Phạm Văn G và bà Trần Thị T2 phải chịu 2.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Xác nhận Công ty cổ phần M1 nộp 2.000.000 đồng tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Buộc ông Phạm Văn G và bà Trần Thị T5 lại cho Công ty cổ phần M số tiền 2.000.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND khu vực 9-Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 9-Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/KDTM-PT ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 35/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty M tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông G, bà T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger