Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HSST

Ngày: 05/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Phương

Thư ký Tòa án: Ông Phạm Quang Huy – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Võ Yến Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 31/2025/TLST-HS ngày 26/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số 31/2025/QĐXXST - HS ngày 27/02/2025, đối với bị cáo: Nguyễn Phương L; Sinh năm: 2004; Đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn L, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội; Nơi ở: thôn L, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H (Đã chết) và bà: Chu Lan P (sinh năm 1986); Gia đình có 02 anh em. Bị cáo là con thứ út. Chưa có chồng, con;

Danh chỉ bản số [...] ngày 11/12/2024 tại Công an quận Ba Đình

Tiền án; Tiền sự: Không;

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Chị Lê Thị Bích L1, sinh năm 1989. Địa chỉ: số A, P, phường N, thành phố Hà Nội.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h00' ngày 03/12/2024, Bùi Thanh H1 (sinh năm: 1996, trú tại: Phú Yên, P, Hà Nội) điều khiển xe máy Honda LEAD (không có Biển kiểm soát) chở theo Nguyễn Phương L (là chị họ của H1) đến cửa hàng số A H, phường N, B, Hà Nội để mua đồ ăn. Đến nơi, H1 dừng xe và đợi ở ngoài, còn L đi vào quán. Trong lúc đứng nói chuyện và hỏi mua đồ ăn, L quan sát thấy trên bàn nhựa màu xanh ở sát góc cửa hàng có 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L vờ hỏi mua của chủ quán là chị Lê Thị Bích L1 (sinh năm: 1989; trú tại: A P, N, B, Hà Nội) một số đồ ăn để khiến chị L1 thiếu chú ý quan sát, sau đó, L dùng tay trái trộm cắp chiếc điện thoại trên rồi cho vào túi áo khoác bên trái của L. Ngay lúc đó, anh Nguyễn Thanh B (Sinh năm: 1988, trú tại: A P, Nguyễn Trung T, B, Hà Nội) là chồng của chị L1 phát hiện sự việc, khi anh B hỏi, L đã lấy chiếc điện thoại trong túi áo giao lại cho anh B. Anh B báo cáo sự việc đến công an phường N và chị Lê Thị Bích L1 đã giao nộp vật chứng cho cơ quan điều tra để giải quyết theo qui định.

* Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Phương L:

  • - 01 (một) điện thoại Iphone 15 plus màu hồng, loại 128gb, số sim 0382134085, số Imel 350110766448826, đã qua sử dụng:
  • - 01 (một) túi xách màu nâu, kích thước 25x30 cm,
  • - Số tiền 505.000 đồng.

* Cơ quan điều tra đã thu giữ của Bùi Thanh H1:

  • - 01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu trắng, bản 256gb, số sim 0842125555, số Imel 352192205799090, đã qua sử dụng;
  • - Số tiền 1.271.000 đồng;
  • - 01 (một) xe máy Honda Lead, không có BKS, SM: JK41E-0009820, SK: RLHJK1234RZ007392, đã qua sử dụng.

Bản kết luận định giá tài sản số 105 /KLĐG-HĐĐGTS ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B, kết luận: "01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max màu tím, loại 256 gb đã qua sử dụng có giá 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng)".

Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc điện thoại trên cho chị Lê Thị Bích L1.

Quá trình điều tra, Nguyễn Phương L khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của L phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng, sơ đồ hiện trường và các chứng cứ tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.

Đối với Bùi Thanh H1 là người đã chở Nguyễn Phương L, quá trình điều tra xác định Bùi Thanh H1 không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Phương L. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với H1.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, không có BKS, SM: JK41E- 0009820, SK: RLHJK1234RZ007392 cùng 01 chiếc điện thoại và số tiền 1.271.000 đồng thu giữ của Bùi Thanh H1, qua xác minh là tài sản hợp pháp của chị H1. Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả những tài sản trên cho chị H1.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS ngày 14/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Phương L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Phương L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173; Căn cứ điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt từ 08 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 16 đến 24 tháng. Không phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Lê Thị Bích L1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên không đề nghị xem xét.

Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại Iphone 15 plus màu hồng, loại 128gb, số sim 0382134085, số Imel 350110766448826, đã qua sử dụng; 01 (một) túi xách màu nâu, kích thước 25x30 cm; Số tiền 505.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phương L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi tuyên án, bị cáo xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Phương L khai nhận phù hợp với biên bản bắt qua tang, lời khai người bị hại, nhân chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 12 giờ 00 ngày 03/12/2024, tại số A H, phường N, B, Hà Nội, Nguyễn Phương L đã có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Tang vật là 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím có giá trị 17.000.000đồng (Mười bảy triệu đồng) là tài sản của chị Lê Thị Bích L1, đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phương L đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
  3. [3]. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Phương L về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
  4. [4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
  5. [5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  6. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  7. [7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
  8. [8] Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã viện dẫn, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và tại gia đình với thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dục giáo dục răn đe bị cáo, phòng ngừa chung và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, cho bị cáo Nguyễn Phương L hưởng án treo.
  9. [9] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Lê Thị Bích L1 đã nhận lại tài sản, không có ý kiến gì về dân sự nên không xét.
  10. [10]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
    • - Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động Iphone 15 Plus màu hồng128GB số IMEI: 350110766448826, máy đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0382134085; 01 (Một) túi xách màu nâu đã cũ qua sử dụng, kích thức 25x30cm; Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản bàn giao vật chứng số 92 ngày 21/02/2025.
    • - Trả lại cho bị cáo số tiền 505.000 đồng (Năm trăm linh năm nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền số 11232266 ngày 21/02/3025; Đơn vị trả tiền: Công an quận B (Đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình; tài khoản: 3949.0.1061691).
  11. [11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào:
    • - khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
    • - Điều 135, khoản 2 Điều 136, 331, 333, 463, 463 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2013/UBTVQH 14 ngày 30/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Xử phạt:
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương L 08 (Tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Nguyễn Phương L về Ủy ban nhân dân xã M, M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

    Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.

  4. Về trách nhiệm dân sự:
  5. Người bị hại là chị Lê Thị Bích L1 đã nhận lại tài sản, không có ý kiến gì về dân sự nên không xét.

  6. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
    • - Trả lại cho bị cáo 01 (Một) điện thoại di động Iphone 15 Plus màu hồng128GB số IMEI: 350110766448826, máy đã qua sử dụng, bên trong có sim số 0382134085; 01 (Một) túi xách màu nâu đã cũ qua sử dụng, kích thức 25x30cm; Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản bàn giao vật chứng số 92 ngày 21/02/2025.
    • - Trả lại cho bị cáo số tiền 505.000 đồng (Năm trăm linh năm nghìn đồng) theo Giấy nộp tiền số 11232266 ngày 21/02/3025; Đơn vị trả tiền: Công an quận B (Đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình; tài khoản: 3949.0.1061691).
  7. Về án phí:
  8. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo:
  10. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại là chị Lê Thị Bích L1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày được giao bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát ND TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát ND Quận Ba Đình;
  • - Chi cục thi hành án Dân sự Quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số 1 Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo.
  • - Lưu.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 35/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger