Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HSST

Ngày: 07/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỹ - Giáo viên nghỉ hưu

Bà Bùi Thị Bích Vân

- Thư ký phiên toà:

Bà Đỗ Minh Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2025/TLST – HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn K, sinh ngày 25 tháng 11 năm 2007; (khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 10 tháng 0 ngày; HKTT và chỗ ở: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn K1, sinh năm 1965 và Con bà: Lê Thị D (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện cho bị cáo: Bà Chử Phương T – Phó Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị Phương M – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Bà Đặng Thị T1, sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện T, Thành phố Hà Nội; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Chị Dương Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số B, ngõ F, ngách B B, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 24/09/2024, bà Đặng Thị T1 (sinh năm: 1969; HKTT: Thôn C, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội) có để xe máy điện nhãn hiệu 133s màu sơn đỏ (không BKS) tại gốc cây trên vỉa hè gần cầu đi bộ đối diện chung cư HH1C trục đường N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội rồi đi vào làm việc tại chung cư H. Đến khoảng 05 giờ 50 phút cùng ngày khi ra ngoài lấy xe thì phát hiện xe bị mất. Cùng ngày, khoảng 3 giờ sáng ngày 24/09/2024, chị Dương Thị L (sinh năm: 1995; HKTT: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định) có để xe máy điện BKS 29MĐ1-220.04 tại trước cửa kiot A tòa nhà R, phường H, quận H, thành phố Hà Nội và đi ăn ở gần đó. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày khi ra lấy xe thì phát hiện xe bị mất.

Khoảng 05 giờ 05 phút ngày 24/09/2024, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra hành chính trước rạp chiếu phim CGV R, phường H, quận H, thành phố Hà Nội, phát hiện Nguyễn K (sinh ngày: 25/11/2007; HKTT: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang) đang dắt theo 01 chiếc xe máy điện màu đỏ nhãn hiệu 133s có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, K khai nhận vừa thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu 133s màu đỏ tại vỉa hè dưới gầm cầu đi bộ trước tòa nhà H L, phường H, quận H, Hà Nội và 01 chiếc xe máy điện BKS 29MĐ1-220.04 tại trước cửa kiot A tòa nhà R, phường H, quận H, Hà Nội. Sau đó, tổ công tác đã đưa K về trụ sở Cơ quan Công an để điều tra làm rõ.

Vật chứng thu giữ : Thu giữ của Nguyễn K 01 xe máy điện nhãn hiệu 133s màu sơn đỏ, số khung:RR6YEDGR6FT715067, số máy HYW48150419722, không đeo biển kiểm soát; 01 xe máy điện nhãn hiệu Xman II, số khung: RP4YBEK37H8500033, số máy: GHM60V800WANH001419, biển kiểm soát: 29MĐ1-220.04.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn K khai nhận: Khoảng 03 giờ 00 ngày 24/09/2024, trong khi đang đi lang thang tại khu vực phường H, K phát hiện có một chiếc xe máy điện có nhãn hiệu 133s, màu đỏ, không đeo biển kiểm soát để tại khu vực gốc cây dưới gầm cầu đi bộ đối diện tòa chung cư HH1C, bán đảo L, H, H, Hà Nội, không có người trông giữ, xe không có khóa. Lợi dụng sơ hở, K đã lấy trộm xe máy điện trên đi. Khi Nguyễn K đang dắt chiếc xe máy điện vừa trộm cắp được đi ngang qua khu vực vườn hoa phố V, bán đảo L, H, H, Hà Nội, thì phát hiện chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xman II, màu xanh, BKS: 29MĐ1 - 220.04 để ở trước cửa kiốt 11, tòa nhà R, L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội không có ai trông giữ. Sau đó, K dắt chiếc xe máy điện màu đỏ trộm cắp được cất giấu chỗ vườn hoa gần đó và vào lấy trộm chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xman II BKS: 29MĐ1-220.04. Sau khi lấy trộm chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xman II BKS: 29MĐ1-220.04, Nguyễn K mang chiếc xe máy điện đi cất giấu tại khu vực vỉa hè cạnh tường rào nhà máy S, huyện T, Hà Nội. Sau đó, Nguyễn K đi bộ quay lại để lấy chiếc xe máy điện màu đỏ lấy trộm trước đó để lại khu vực vườn hoa phố V, phường H, quận H, Hà Nội. Khi vừa quay lại để dắt chiếc xe máy điện màu đỏ không có BKS đi thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, phát hiện bắt giữ.

Kết luận định giá tài sản số 293/KL- HĐĐGTS ngày 28/11/2024, của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự kết luận: 01 xe máy điện nhãn hiệu 133s màu đỏ, không biển kiểm soát, số khung:RR6YEDGR6FT715067, số máy: HYW48150419722, tài sản đã qua sử dụng: trị giá 2.000.000 đồng và 01 xe máy điện nhãn hiệu Xman II màu xanh, BKS:29MĐ1-220.04, số khung RP4YBEK37H8500033, số máy: GHM60V800WANH001419, tài sản đã qua sử dụng, trị giá 2.000.000 đồng Tổng trị giá là 4.000.000 đồng.

Kết luận giám định số 8909/KL-KTHS ngày 25/12/2024, của Phòng K2 Công an T2 kết luận: Xe máy điện nhãn hiệu 133s không đeo biển kiểm soát: Số khung: RR6YEDGR6FT 715067 và số máy: HYW48150419722 là số nguyên thủy; Xe máy điện nhãn hiệu XMAN II màu xanh, đeo biển kiểm soát: 29MĐ1-220.04, Số khung: RP4YBEK37H8500033 và số máy: GHM60V800WAN-H 001419 là số nguyên thủy.

Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Nguyễn K xác định vị trí thực hiện hành vi phạm tội tại Ki ốt A tòa R T, phường H, quận H, Hà Nội; trước tòa HH1C L, phường H, quận H, Hà Nội; và vị trí cất giấu xe máy điện BKS: 29MĐ1-220.04 tại vỉa hè cạnh tường rào nhà máy S, đường P, huyện T, Hà Nội.

Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera tại hiện trường và xung quanh khu vực hiện trường phát hiện 01 camera ghi nhận tại trước kiốt A tòa nhà R, phường H, quận H, Hà Nội thể hiện trong khoảng thời gian 03 giờ 45 phút đến 03 giờ 47 phút ngày 24/09/2024, thời gian trên camera phù hợp với thời gian thực tế, có ghi nhận nội dung diễn biến vụ việc trộm cắp tại trước K tòa nhà RainBow ngày 24/09/2024 và được K xác nhận đây là hình ảnh K thực hiện hành vi trộm cắp. Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh và lưu trữ vào USB đưa vào hồ sơ vụ án.

Đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn K là: 01 xe máy điện nhãn hiệu 133s màu sơn đỏ, số khung: RR6YEDGR6FT715067, số máy HYW48150419722, không đeo biển kiểm soát. Quá trình điều tra xác định 01 xe máy điện nhãn hiệu 133s màu sơn đỏ, số khung: RR6YEDGR6FT715067, số máy HYW48150419722 chủ sở hữu xe là anh Ngô Huy V (sinh năm:2000; HKTT: Tổ A T, quận C, thành phố Hà Nội). V trình bày đã bán chiếc xe máy điện trên từ năm 2018 cho một người không quen biết và không có giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Quyết định xử lý vật chứng số 652/06.02.2025 trả lại chiếc xe máy điện trên cho bà Đặng Thị T1.

Đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn K là: 01 xe máy điện nhãn hiệu XmanII, số khung: RP4YBEK37H8500033, số máy: GHM60V800WANH001419, biển kiểm soát: 29MĐ1-220.04. Qua tra cứu số khung: RP4YBEK37H8500033, số máy: GHM60V800WANH001419 không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Qua tra cứu biển số xe 29MĐ1-220.04 xác định biển số xe trên thuộc về xe máy điện loại 133s màu đen cam nhãn hiệu MOMENTIUM số máy 01088S6, số khung: 2817535, chủ phương tiện là bà Trần Như H (sinh năm 1980, HKTT: SỐ A ngách E ngõ F, N, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội). Bà H khai đã bán chiếc xe máy điện trên từ năm 2020 cho một người không quen biết và không có giấy tờ mua bán. Do không xác minh được chủ sở hữu của chiếc xe máy điện trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định tách vật chứng là chiếc xe máy điện nhãn hiệu Xman II, số khung: RP4YBEK37H8500033, số máy: GHM60V800WANH001419 và biển kiểm soát: 29MĐ1-220.04 để tiếp tục xác minh điều tra làm rõ.

Cáo trạng số 46/CT-VKS-HM ngày 21/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội truy tố đối với Nguyễn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS;

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội cho rằng: Căn cứ vào các lời khai của bị cáo, căn cứ các tài liệu, chứng cứ, vật chứng thu giữ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự: Sau khi phân tích nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173 BLHS; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38; Điều 91; 101 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn K từ 04 đến 08 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Bị cáo Nguyễn K khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn K nhất trí với tội danh như cáo trạng của VKS nhân dân quận H đã truy tố đối với bị cáo tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét, bản thân bị cáo trình độ học vấn thấp, phạm tội khi chưa thành niên, thiếu hiểu biết nên chưa nhận thức được đầy đủ hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm i,s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90; 91; 101; Điều 65 BLHS cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà VKS đề xuất và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Người đại diện cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Thành phố Hà Nội; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội: Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn K chưa đủ 18 tuổi, hồ sơ vụ án thể hiện, mẹ bị cáo hiện đã chết, bố bị cáo bỏ đi khỏi địa phương không xác định được nơi cư trú hiện nay, do đó căn cứ Điều 136 của Bộ luật dân sự 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTB&Xh ngày 21/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ C, Bộ Tư pháp, Bộ L1 về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, Tòa án chỉ định người đại diện cho bị cáo là Đại diện Đoàn Thanh niên Cộng sản H1 nơi xảy ra hành vi phạm tội.

Bị hại được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn K thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 24/09/2024, Nguyễn K có hành vi trộm cắp tài sản là 01 xe máy điện nhãn hiệu 133s màu đỏ, không biển kiểm soát tại khu vực gốc cây dưới gầm cầu đi bộ đối diện tòa chung cư HH1C, bán đảo L, H, H, Hà Nội của bà Đặng Thị T1 (sinh năm: 1969; HKTT: Thôn C, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội) trị giá 2.000.000 đồng và 01 xe máy điện nhãn hiệu Xman II màu xanh, số khung RP4YBEK37H8500033, số máy: GHM60V800WANH001419 tại trước Ki ốt A tòa R T, phường H, quận H, Hà Nội của chị Dương Thị L (sinh năm: 1995; HKTT: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định) trị giá 2.000.000 đồng.Tổng trị giá tài sản trong 02 vụ trộm cắp trên là 4.000.000 đồng.

Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo Nguyễn K đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại với tổng trị giá tài sản là 4.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 BLHS.

Cáo trạng của VKS nhân dân quận H, Thành phố Hà Nội truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về hình phạt với bị cáo:

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng tới trật tự trị an trên địa bàn. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và khi xét xử bị cáo chưa đủ 18 tuổi, tuy nhiên do không có nơi cư trú, thường sống lang thang nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản vì vậy việc cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội có thể ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Khi xem xét quyết định hình phạt HĐXX xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thực hiện nhiều lần cùng 01 hành vi trộm cắp tài sản vì vậy căn cứ hướng dẫn tại mục 4 phần 1 Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 BLHS;

Bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại là bà T1 nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình éo le (mẹ chết, bố không xác định được nơi cư trú) nên HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tuy nhiên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” nên HĐXX không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 51 BLHS đối với bị cáo như quan điểm của người bào chữa cho bị cáo.

Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nên khi quyết định hình phạt HĐXX căn cứ quy định tại Điều 91, 101 BLHS 2015; Căn cứ khoản 2, Điều 179; khoản 1, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 để áp dụng hình phạt đối với bị cáo theo hướng có lợi cho bị cáo cụ thể: “Đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, ...nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3/5 mức phạt tù mà điều luật của Bộ luật hình sự quy định....”

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có khả năng chấp hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng trong vụ án:

Căn cứ quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử lý đối với các vật chứng như sau:

Đối với 01 xe máy điện nhãn hiệu 133s màu sơn đỏ, số khung: RR6YEDGR6FT715067, số máy HYW48150419722, không đeo biển kiểm soát, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 652/06.02.2025 trả lại chiếc xe máy điện trên cho bà Đặng Thị T1.

Đối với 01 xe máy điện nhãn hiệu XmanII, số khung: RP4YBEK37H8500033, số máy: GHM60V800WANH001419, biển kiểm soát: 29MĐ1-220.04, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã ra Quyết định tách vật chứng để tiếp tục xác minh điều tra làm rõ nên HĐXX không xem xét đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H tiếp tục xác minh và xử lý sau.

[6]. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Người đại diện, người bào chữa cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 2 Điều 136; Điều 106; Điều 331; 332; 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • - Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
  • - Áp dụng khoản 1, Điều 173 và điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự;
  • - Áp dụng khoản 2, Điều 179; khoản 1, Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024
  • - Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn K 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Kha .

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận
  • Hoàng Mai, thành phố Hà Nội;
  • - Chi chi cục THADS quận Hoàng
  • Mai, TP Hà Nội;
  • - Công an quận Hoàng Mai, TP
  • Hà Nội;
  • - Bi cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HSST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 35/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 04 tháng tù giam
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger