Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 35/2025/HSPT

Ngày: 20/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Lâm

Bà Trần Thị Nga

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Minh Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Lan - Kiêm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 54/2025/HSPT ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Hoàng Trọng T, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo kháng cáo:

Hoàng Trọng T, sinh 1988, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: Thôn E, xã Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; bố Hoàng Trọng T1 (đã chết), mẹ Đoàn Thị H (đã chết); vợ: Bùi Thị Q, sinh năm 1988; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2016; nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Công ty M

Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Viết L, sinh năm 1970 - Giám đốc công ty

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1972 - Phó giám đốc xí nghiệp V xây lắp điện.

Địa chỉ: Số D L, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Huy S, sinh năm 1985 ; địa chỉ : Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hoàng Trọng T làm nghề thợ điện tự do, trước đó T được Công ty M thuê kéo đường dây điện khu vực phường T, thành phố T, nên biết được đường dây điện chiếu sáng khu vực hồ Đ và đường N là của Công ty Cổ phần M, ban ngày không đóng nguồn điện nên nảy sinh ý định cắt trộm các đoạn dây cáp nguồn điện chiếu sáng lõi đồng mang đi bán lấy tiền tiêu sài. Thực hiện ý định trên, khoảng 08 giờ ngày 28/9/2024 T điều khiển xe mô tô BKS 36N3-9048 mang theo túi dụng cụ thợ điện đến đường N, trèo lên cây cột điện dùng kìm cắt 37m dây cáp nguồn điện chiếu sáng lõi đồng, ký hiệu CU/XLPE/PVC 4x6 được nối giữa hai cây cột điện ký hiệu 1.2 TBA Nguyễn Thái H1 và 1.3 TBA Nguyễn Thái H1. Tuy nhiên do một đầu đoạn dây cáp nguồn điện bị vướng mắc nên T đã cắt và để lại 4,8m dây rồi cuộn đoạn dây cáp nguồn điện lõi đồng vừa cắt trộm được mang lên xe mô tô chở đến ngã 3 M, phường Q, thành phố T bán cho một người phụ nữ thu mua sắt vụn (không rõ nhân thân, lai lịch) lấy 1.500.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.

Tiếp đó, khoảng 11 giờ ngày 02/10/2024 T điều khiển xe mô tô BKS 36N3-9048 đến hồ Đ, phường T, thành phố T, trèo lên cây cột điện, dùng kìm cắt 42m dây cáp nguồn điện chiếu sáng lõi đồng, ký hiệu CU/XLPE/PVC 3x10+1x6 được nối giữa hai cây cột điện ký hiệu (2.3).1 TBA Đội Cung 2 và 3.1/1.1 TBA Đội Cung 2. Do một đầu dây cáp điện bị vướng mắc nên T đã cắt và để lại 6,9m dây rồi cuộn đoạn dây cáp điện lõi đồng vừa cắt được mang lên xe mô tô chở đến đường M, phường Đ, thành phố T bán cho một người phụ nữ thu mua sắt vụn (không rõ nhân thân, lai lịch) lấy số tiền 1.500.000 đồng, tiêu sài cá nhân hết.

Lo sợ hành vi trộm cắp dây cáp nguồn điện bị phát hiện nên sáng ngày 03/10/2024 T điều khiển xe mô tô BKS 36N3-9048 đi mua 01 thang tre và 251m dây cáp nguồn điện chiếu sáng lõi nhôm, ký hiệu AL/XLPE 4Cx16, chở đến hồ Đ, phường T, thành phố T. T trèo lên cây cột điện dùng đoạn dây cáp nguồn điện lõi nhôm mang theo nối lại vào đoạn dây cáp nguồn điện lõi đồng đã cắt trước đó và gỡ lấy 6,9m dây cáp nguồn điện lõi đồng đã cắt trước đó nhưng bị vướng nên để lại. Sau đó tiếp tục điều khiển xe mô tô đến đường N, phường T, trèo lên cây gỡ lấy 4,8m dây cáp nguồn điện lõi đồng đã cắt trước đó nhưng bị vướng nên để lại và nối đoạn dây cáp nguồn điện lõi nhôm mang theo vào đoạn dây cáp nguồn điện lõi đồng đã cắt ngày 28/9/2024 thì bị nhân viên Công ty Cổ phần M phát hiện. Nhận thấy hành vi của mình không thể trốn tránh, T đem tang vật đến Công an phường T, thành phố T đầu thú, khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 42m dây cáp nguồn điện chiếu sáng (vẫn truyền tải điện chiếu sáng bình thường trước khi bị cắt), loại cáp lõi đồng, ký hiệu CU/XLPE/PVC 3x10+1x6, tương ứng với 13,4232 kg lõi đồng trần, trị giá 2.281.944 đồng; 37m dây cáp nguồn điện chiếu sáng (vẫn truyền tải điện chiếu sáng bình thường trước khi bị cắt), loại cáp lõi đồng, ký hiệu CU/XLPE/PVC 4x6, tương ứng với 20,6312 kg đồng trần, trị giá 3.507.204 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp 5.789.248 đồng (BL 64-65).

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý: 01 đoạn dây cáp điện chiếu sáng, ký hiệu CU/XLPE/PVC 3x10+1x6, màu đen, dài 6,9m, bên trong có 04 dây điện lõi đồng; 01 đoạn dây cáp điện chiếu sáng, ký hiệu CU/XLPE/PVC 4x4, màu đen, dài 4,8m, bên trong có 04 dây điện lõi đồng; 01 dao dọc giấy bằng kim loại, bên ngoài bọc nhựa màu bạc, kích thước (15x3)cm; 01 kìm bấm bằng sắt, dài 21cm, tay cầm bọc cao su màu đen, trắng, kích thước dài 12cm mỗi bên; 01 máy siết bu lông màu vàng, đen, gắn liền để là cục pin màu xanh, đỏ, ký hiệu BOSHUN 21V, thân máy được buộc với dây dù, dài mỗi bên 74cm; 01 đai dây đeo an toàn bằng dây dù, màu xanh, một đầu gắn chốt kim loại, kích thước 1,3m; 01 thang tre gồm 02 cây tre được nối với nhau bằng 11 thanh tre, kích thước dài 4,9m; 01 cuộn dây cáp điện chiếu sáng lõi nhôm, ký hiệu AL/XLPE 4Cx16, kích thước dài 172m, bên trong có 04 lõi nhôm; 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, đỏ, cam, BKS 36N3-9048.

Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave S, màu đen, đỏ, cam, BKS 36N3-0948 cho anh Nguyễn Huy S là chủ sở hữu hợp pháp tài sản. Số vật chứng còn lại được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho Công ty Cổ phần M số tiền 23.000.000 đồng. Công ty Cổ phần M không có yêu cầu thêm về dân sự, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

- Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của BLHS, Điều 136; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 03/10/2024 đến ngày 09/10/2024.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 10 tháng 01 năm 2025 bị cáo Hoàng Trọng T kháng cáo với nội dung: Bị cáo xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo giữ nguyên yêu cầu và đơn kháng cáo xin được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương sửa chữa lỗi lầm làm công dân có ích cho xã hội;

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới đó là: Chính quyền địa phương xác nhận gia đình khó khăn, nuôi hai con nhỏ, ngoài lần phạm tội này bị cáo không có vi phạm nào khác, tại địa phương luôn chấp hành đường lối chủ trương của nhà nước, năm 2024 đã ủng hộ quỹ đồng bào bão lụt số tiền 2.000.000₫.

Do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự Điều 65 BLHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thâm, xét xử bị cáo mức án 7 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm vì án được chấp nhận để cải sửa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thật sự ăn năn hối hận, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ, vợ hiện không có công việc làm, xin HĐXX xem xét giảm án cho bị cáo để bị cáo sớm được đoàn tụ với gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Trọng T làm trong thời hạn luật định, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đối với yêu cầu xin được hưởng án treo, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận: Vào ngày 28/9/2024 và ngày 02/10/2024 bị cáo đã nhiều lần lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã lén lút trộm cắp của Công ty M 37 m dây cáp nguồn điện chiếu sáng, loại cáp lõi đồng, ký hiệu CU/XLPE/PVC 4x6 và 42 m dây cáp nguồn điện chiếu sáng, loại cáp lõi đồng, ký hiệu CU/XLPE/PVC 3x10+1x6. Tổng giá trị tài sản trộm cắp sau khi định giá là: 5.789.248 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét hành vi của bị cáo Hoàng Trọng T đã được Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS đúng người đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự xã hội mà còn làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình ra đầu thú thành khẩn ăn năn về hành vi phạm tội, bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương có bố đẻ là ông Hoàng Trọng T1 là thương binh 65% sức khoẻ, đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo được quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội “02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS, tuy nhiên mỗi lần phạm tội đều là tội ít nghiêm trọng, tài sản đã khắc phục, bồi thường đầy đủ cho bị hại.

* Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo xuất trình thêm tình tiết mới đó là: Chính quyền địa phương xác nhận cho bị cáo, có vợ không có việc làm và đang nuôi hai con nhỏ, ngoài lần phạm tội này bị cáo không có vi phạm nào khác, có đóng góp cho quỹ ủng hộ bão lụt số tiền 2.000.000đ. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm. Vì vậy HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, vì kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 66/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của BLHS;

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Trọng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Trọng T 7 (Mười bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao các bị cáo Hoàng Trọng T cho Ủy ban nhân dân xã Q, Tp S, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (p7);
  • - TAND, VKSND tp Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS tp Thanh Hoá;
  • - Công an tp Thanh Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Q

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HSPT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 35/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Trọng T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger