Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày: 28-10-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vũ Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Chí Thanh.

Bà Lương Thị Anh Đào.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Văn H, sinh ngày 01-01-1979 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn H1, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1953; Anh chị em ruột: 07 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Có vợ: Nguyễn Bích L, sinh năm 1985; Có 03 người con: Lớn nhất sinh năm 2002 và nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: Chưa có; tiền sự: Chưa có; Tạm giam: Không; Tạm giữ: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Huỳnh Văn H2, sinh năm 1983 (có mặt).

Cư trú: Ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Nhật B, sinh năm 1970 (vắng mặt).
  2. Cư trú: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Phạm Hoài L1, sinh năm 1980 (vắng mặt).
  4. Cư trú: Số A tỉnh Lộ 10, phường T, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ, ngày 06-5-2025 bị cáo Trương Văn H phát hiện dưới sàn nhà của anh Huỳnh Văn H2 có 01 chiếc xe mô tô biển số: 55N1-2876; nhãn hiệu HONDA; loại xe WAVE ALPHA; màu: Đen-bạc nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó bị cáo Trương Văn H đến dẫn xe mô tô của bị hại Huỳnh Văn H2 đi, sau khi đi được một đoạn thì nhờ một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ tên và địa chỉ cụ thể câu điện trực tiếp để nổ máy xe. Sau khi nổ được xe bị cáo H2 điều khiển chạy đến nhà anh Nguyễn Nhựt B1 tại ấp A, xã T, huyện T (nay là ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp) để uống rượu và ngủ tại đây. Đến sáng ngày 07-5-2025 bị cáo Trương Văn H điều khiển xe mô tô biển số: 55N1-2876 chạy về hướng chợ T thì bị tổ tuần tra thuộc lực lượng Phòng C Công an tỉnh Đ dừng phương tiện kiểm tra. Do không có giấy đăng ký xe mô tô nên Phòng C đã lập biên bản tạm giữ phương tiện. Sau khi phát hiện xe mô tô biển số: 55N1-2876 bị mất trộm nhưng do bận đi làm thuê nên đến ngày 14-5-2025 anh Huỳnh Văn H2 đến Công an xã T (nay là Công an xã T) trình báo sự việc.

Qua điều tra, xác minh phát hiện bị cáo Trương Văn H là người đã thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của bị hại Huỳnh Văn H2 như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án thu giữ: 01 xe mô tô biển số: 55N1-2876; nhãn hiệu: HONDA; số loại: WAVE ALPHA; số máy: 12E-2670595; số khung: AY-170556; màu sơn: Đen-bạc; dung tích: 97 cm³. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xử lý đã trả lại cho bị hại Huỳnh Văn H2.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐĐG ngày 10-6-2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện T (cũ) kết luận: 01 xe mô tô biển số: 55N1-2876; nhãn hiệu: HONDA; số loại: WAVE ALPHA; màu sơn: Đen-bạc; số máy: 12E-2670595; số khung: AY-170556 xe đã qua sử dụng có giá trị là 7.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 01/CT-VKS-KV12 ngày 07-10-2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trương Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.

Tại phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Văn H mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ tên và địa chỉ cụ thể, mà bị cáo H nhờ câu điện xe trực tiếp giùm để nổ máy xe, không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét sau.

Đối với Nguyễn Nhựt B1, không biết việc bị cáo H trộm cắp xe mô tô của bị hại Huỳnh Văn H2, nên không xem xét xử lý với vai trò đồng phạm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển kiểm soát số: 55N1-2876; nhãn hiệu: HONDA; số loại: WAVE ALPHA; số máy: 12E-2670595; số khung: AY-170556; màu sơn: Đen-bạc; dung tích: 97cm³ đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho bị hại Huỳnh Văn H2, nên không đề nghị xử lý.

Tại phần tranh luận không ai có ý kiến tranh luận và bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa lời khai nhận tội của bị cáo Trương Văn H phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại; các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết luận định giá tài sản; vật chứng thu giữ được và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, qua tranh tụng đã đủ cơ sở kết luận vào ngày 06-5-2025 bị cáo Trương Văn H có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị hại Huỳnh Văn H2 một xe mô tô biển kiểm soát số: 55N1-2876 có giá trị 7.500.000 đồng.

[3] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trên 18 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực hành vi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo Trương Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã trộm cắp tài sản của bị hại, hành vi của bị cáo đã gây lo lắng trong cộng đồng dân cư và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có như vậy mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản và Kiểm sát viên không đề nghị hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong không yêu cầu gì và các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì, nên không xem xét giải quyết.

Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ tên và địa chỉ cụ thể mà bị cáo H nhờ câu điện xe trực tiếp giùm để nổ máy xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét sau.

Đối với Nguyễn Nhựt B1, không biết việc bị cáo H trộm cắp xe mô tô của bị hại Huỳnh Văn H2, nên không xem xét xử lý với vai trò đồng phạm, là phù hợp theo quy định pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã xử lý xong, nên không xem xét xử lý.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị xử lý vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  2. Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Trương Văn H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  4. Bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28-10-2025). Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp.
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp.
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Đồng Tháp.
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Đồng Tháp.
  • - VKSND khu vực 12 – Đồng Tháp.
  • - Phân TTG, kho vật chứng Hồng Ngự.
  • - THA dân sự tỉnh Đồng Tháp.
  • - UBND xã Tân Hộ Cơ.
  • - Công an xã Tân Hộ Cơ.
  • - Bị cáo.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vũ Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 09 tháng tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger