Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 6 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • - Ông Trần Thanh Hoàng.
  • - Ông Nguyễn Lâm Tới.

Thư ký phiên tòa: Đặng Văn Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên tòa:

Ông Chau Rết - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST- HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Chau Sâm N, sinh năm 2003, nơi sinh: T, tỉnh An Giang, nơi cư trú: Ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Chau Banl, sinh năm 1984; mẹ: Neàng Khanh N1, sinh năm 1984, anh em ruột có 05 người, bị cáo là người thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Chau Sâm N bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2025 cho đến nay, tại Phân trại tạm giam khu vực thị xã T.

Người bào chữa cho bị cáo Chau Sâm N có bà Văng Thị V, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A.

Bị hại:

  • - Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1990,
  • - Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1989;

Cùng địa chỉ: Khóm P, phường A, thị xã T, An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Dương Thị H, sinh năm 1963;
  • - Ông Nguyễn Tân H1, sinh năm 1984;
  • - Ông Lê Tuấn A, sinh năm 1989;
  • - Ông Ngô Văn C, sinh năm 1983;
  • - Ông Đào Văn T, sinh năm 1982;

Cùng địa chỉ: Khóm P, phường A, thị xã T, An Giang

  • - Ông Chau N3, sinh năm 1998;
  • - Bà Neàng Khanh N1, sinh năm 1984,
  • - Ông Chau B, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.

Người phiên dịch: Ông Chau Xi N4, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Khóm S, phường N, thị xã T, An Giang.

(Bị cáo N, bị hại ông P, ông N2, người liên quan ông H1, ông T, ông N3, bà N1, ông B, ông N4, bà V có mặt, những người còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 05/9/2024, bà Dương Thị H nghi vấn Chau N3 và Chau Sâm N vào vườn của bà H (thuộc khóm P, phường A, thị xã T) trộm cắp gà, nên bà H kể lại sự việc cho Ngô Văn C (con ruột bà H) biết. Sau đó, C kêu các ông Đào Văn T, Nguyễn Tấn H2, Lê Tuấn A, Nguyễn Văn N2 và Nguyễn Tấn P cùng nhau đến gặp N3 và N để hỏi nguyên nhân vào trong vườn, mà không được sự đồng ý của chủ vườn.

Khi đến khu vực đường mòn cách vườn của bà H khoảng 500 mét, N3 điều khiển xe mô tô biển số 67F1-447.73 trên tay cầm cây búa và chở N ngồi phía sau trên tay cầm lưỡi hái bằng kim loại, nên P và N2 yêu cầu N và N3 dừng xe lại để nói chuyện, nhưng N và N3 nói không trộm tài sản gì của ai rồi chạy xe đi, thì P và N2 đứng cản đầu xe mô tô không cho đi, liền xảy ra cự cãi và xô đẩy qua lại làm xe mô tô của N3 bị ngã. Cùng lúc này, P cầm 01 khúc gỗ tre dài khoảng 70 – 80cm đứng đối diện đánh 01 cái trúng vào đuôi mày trái của N gây thương tích, N liền cầm lưỡi hái chém ngang 01 cái trúng vào vùng bụng trái của P gây thương tích, Phú la lên “chém tao, nó chém tao”, rồi N và N3 bỏ chạy, nên Nguồn nhặt 01 khúc gỗ tre tròn dài khoảng 01 mét cầm trên tay đuổi theo đánh 01 cái trúng vào tay của N3 làm rơi cây búa, N2 tiếp tục đánh thêm 01 cái trúng vào vùng chẩm trái của N3 gây thương tích, N thấy N3 bị đánh liền cầm lưỡi hái đứng đối diện quơ chém về phía trước trúng vào bụng trái của N2 gây thương tích, rồi N bỏ chạy, thì mọi người đưa P và N2 đến bệnh viện điều trị thương tích. Sau đó, Cơ quan Công an mời Nang làm việc, thì N thừa nhận hành vi dùng lưỡi hái gây thương tích cho P và Nguồn như nội dung vụ án.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ trên người sống số 744/24/KLTTCT-TTPY ngày 13/11/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận Nguyễn Tấn P:

  • - Sẹo vùng hạ sườn trái, kích thước (4.5 x 0.6)cm, sẹo lồi, hồng, tỷ lệ là 02%. Do vật sắc nhọn gây nên. Gây:
  • - Thấu bụng, thủng ruột non 03 lỗ, đã phẫu thuật khâu lỗ thủng. Tỷ lệ là 35%.
  • - Sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn, kích thước (19 x 0.7) cm. Tỷ lệ là 03%.
  • - Sẹo dẫn lưu vùng hố chậu phải, kích thước (2.5 x 0.3) cm. Tỷ lệ là 01 %.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 39%.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ trên người sống, số 743/24/KLTTCT-TTPY ngày 13/11/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận Nguyễn Văn N2:

  • - Sẹo vùng bụng trái, nằm xiên, kích thước (3.5 x 0.3) cm, sẹo lồi, hồng, tỷ lệ là 02%. Do vật sắc nhọn gây nên.
  • + Thấu bụng, thủng ruột non 03 lỗ, đã phẫu thuật khâu lỗ thủng. Tỷ lệ là 35%.
  • + Sẹo mổ đường trắng giữa trên dưới rốn, kích thước (12.5 x 0.3) cm. Tỷ lệ là 02%.
  • + Sẹo dẫn lưu vùng hố chậu phải, kích thước (2.5 x 0.2) cm. Tỷ lệ là 01%.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là: 38%.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ trên người sống, số 747/24/KLTTCT-TTPY ngày 14/11/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận: Chau Nát

Sẹo vùng chẩm trái dài 2.5 cm, bờ không sắc.

Kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là: 01%.

Kết luận khác: Thương tích trên do vật tày gây nên.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ trên người sống, số 746/24/KLTTCT-TTPY ngày 14/11/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận Chau Sâm N:

  • - Vết thương vùng đuôi mày trái, kích thước (3.3 x 2.5) cm. Tỷ lệ là 03%
  • - Sây sát da vùng cổ sau bên trái để lại vết biến đổi sắc tố, kích thước (1.9 x 1.2) cm. Tỷ lệ là 01%
  • 2. Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là: 04%.

Kết luận khác: Thương tích trên do vật tày gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên Tòa ông Nguyễn Văn N2 và ông Nguyễn Tấn P, yêu cầu xử lý hình sự đối với Chau Sâm N, ông N2 yêu cầu N5 bồi thường 40.633.827 đồng và anh P yêu cầu Nang bồi thường 45.171.937 đồng tiền chi phí điều trị, tổn thất ngày công lao động, chi phí ăn uống đi lại và người nuôi bệnh.

Tại phiên Tòa bị cáo Chau Sâm N khai nhận hành vi phạm tội phù hợp nội dung vụ án; lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 36/CT-VKSTB-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đã truy tố Chau Sâm N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo Chau Sâm N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên và đồng thời bị cáo N xác định, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo có làm đơn yêu cầu không khởi tố hình sự đối với ông Nguyễn Tân P1, đây là sự tự nguyện, không ai ép buộc.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, đề nghị xử phạt bị cáo Chau Sâm N từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 cây búa và 01 lưỡi hái, 01 khúc gỗ.
  • - Trả lại xe mô tô biển số 67F1 – 44773 cho anh Chau N3.

Về trách nhiệm dân sự trong vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại anh Nguyễn Tấn P nhận 23.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn N2 nhận 21.000.000 đồng tiền bồi thường chi phí điều trị thương tích cũng như khắc phục hậu quả, số tiền trên do ông B và bà N1 nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Ý kiến của bị hại ông Nguyễn Tấn P và ông Nguyễn Văn N2 trình bày sự việc xảy ra, giữa bị hại và bị cáo đúng như bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố, về hình phạt anh yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Tấn P đồng ý nhận tiền bồi thường 23.000.000 đồng, anh N2 đồng ý nhận 21.000.000 đồng, số tiền trên do cha, mẹ bị cáo đã nộp khắc phục tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Ý kiến trình bày của ông Chau B và bà Neàng Khanh N1: Ông, bà là cha mẹ ruột của bị cáo Chau Sâm N, do tác động của N, ông bà vay, mượn được tổng số tiền 44.000.000 đồng nộp khắc phục hậu quả cho bị hại tại Chi Cục Thi hành án dân sự Tịnh Biên, An Giang. Tại phiên Tòa, ông B và bà N1 xác định là không yêu cầu bị cáo N trả lại.

Ông Chau N3 trình bày: Sự việc xảy ra như đúng như bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã thông qua, trong quá trình điều tra truy tố, ông có làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với người gây thương tích cho ông, đây là sự tự nguyện, không ai ép buộc. Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra có tạm giữ xe mô tô biển số 67F1 – 447.73 nay ông N3 yêu cầu được nhận lại xe.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo bà Văng Thị V trình bày bào chữa như sau:

Về xác định tội danh: Bà V thống nhất với Cáo trạng số 36/CT-VKSTB – HS, ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Chau Sâm N về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, sống vùng kinh tế khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp nhất của khung đề nghị của Viện kiểm sát là áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 xử phạt bị cáo Chau Sâm N từ 05 năm đến 06 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Đề nghị Hội đồng ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại số tiền bồi thường ông Nguyễn Tấn P nhận 23.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn N2 nhận 21.000.000 đồng; số tiền trên hiện ông B và bà N1 đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.

Về xử lý vật chứng: Thống nhất với đề nghị Kiểm sát viên, không có ý kiến.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội cũng như đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Chau Sâm N không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của bộ luật tố Tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Chau Sâm N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 05/9/2024 Chau N3 và Chau Sâm N điều khiển xe mô tô biển số 67F1-447.73 đến khu vườn bà H thuộc khóm P, phường A, thị xã T, An Giang săn bắn chim bà H nghi vấn Chau N3 và bị cáo Chau Sâm N vào vườn mình trộm cắp gà, nên bà H kể lại sự việc cho Ngô Văn C.

Sau đó, C kêu các anh Đào Văn T, Nguyễn Tấn H2, Lê Tuấn A, Nguyễn Văn N2 và Nguyễn Tấn P cùng nhau đến gặp N3 và N để hỏi nguyên nhân vào trong vườn, mà không được sự đồng ý của chủ vườn nên các bên xảy ra cự cãi và xô đẩy qua lại làm xe mô tô của N3 bị ngã. Cùng lúc này, anh P cầm 01 khúc gỗ tre đánh 01 cái trúng vào đuôi mày trái của N gây thương tích, N liền cầm lưỡi hái chém ngang 01 cái trúng vào vùng bụng trái của anh P gây thương tích rồi N và N3 bỏ chạy, nên anh N2 nhặt 01 khúc gỗ tre đuổi theo đánh 01 cái trúng vào tay của N3 làm rơi cây búa, anh N2 tiếp tục đánh thêm 01 cái trúng vào vùng chẩm trái của N3 gây thương tích, N thấy N3 bị đánh liền cầm lưỡi hái đứng đối diện quơ chém về phía trước trúng vào bụng trái của anh N2 gây thương tích, rồi N bỏ chạy, thì mọi người đưa anh P và anh N2 đến bệnh viện điều trị thương tích. Sau đó, Cơ quan Công an mời Nang làm việc, thì N thừa nhận hành vi dùng

[3] Căn cứ hành vi của bị cáo đã thực hiện và bản kết luận giám định số 773 và 774/24/KLTTCT-TTPY ngày 13/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A về thương tích anh Nguyễn Tấn P 39% và anh Nguyễn Văn N2 38% hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt theo điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 có khung hình phạt tù từ 7 năm đến 14 năm.

[4] Hành vi của bị cáo đã trực tiếp tiếp gây tổn hại đến sức khỏe, tinh thần của bị hại anh Nguyễn Tân P1 và anh Nguyễn Văn N2, gây mất trật tự trị an tại địa phương và hành vi này của bị cáo đã phạm vào điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự, phạm tội có tính chất nghiêm trọng, nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và cũng nhằm giáo dục, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[5] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi làm tổn hại đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ân năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự thuộc nhân thân tốt, bản thân bị cáo là bộ đội xuất ngũ, được đơn vị Trung đoàn 892 tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện A tặng Giấy khen chiến sĩ đại đội bộ binh 5, tiểu đoàn bộ binh 511 Trung đoàn 892, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh An Giang, đông thời bị cáo là dân tộc thiểu số (khmer) nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, dưới sự tác động của bị cáo gia đình bị cáo nộp khắc phục hậu quả số tiền anh P1 23.000.000 đồng và anh N2 21.000.000 đồng tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, An Giang. Tại phiên Tòa giữa bị cáo và bị hại ông P1, ông N2 thống nhất số tiền bồi thường ông P1 đồng ý nhận số tiền 23.000.000 đồng và ông N2 đồng ý nhận số tiền 21.000.000 đồng. Bị hại ông P1, và ông N2 cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đồng thời xét về lỗi, bị hại cũng có một phần lỗi trong vụ việc này. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù từ 05 năm đến 06 năm tù và cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với ông Nguyễn Tấn P dùng khúc gỗ tre đánh gây thương tích bị cáo Chau Sâm N 04% và ông Nguyễn Văn N2 dùng khúc gỗ tre đánh gây thương tích ông Chau N3 01% là vi phạm pháp luật, do bị cáo Chau Sâm N và Chau N3 tự nguyện làm đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với ông P và ông N2. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không quy kết trách nhiệm hình sự đối với ông N2 và ông P là có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với lưỡi hái, khúc gỗ cũng như cây búa xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Trả lại cho anh C1 Nát xe mô tô biển số 67F1 – 447.73 tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã làm rõ xe mô tô trên không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Chau Sâm N.

[8] Về trách nhiệm dân sự trong vụ án:

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận số tiền bồi thường giữa bị cáo và bị hại, ông P đồng ý nhận 23.000.000 đồng, ông N2 đồng ý nhận 21.000.000 đồng do gia đình bị cáo nộp khắc phục tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang theo biên lai thu số 004991và 004993 ngày 23/6/2025.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Chau Sâm N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Chau Sâm N 05 (năm) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20/01/2025).

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 587 và 590 Bộ luật Dân sự 2015:

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận số tiền bồi thường giữa bị cáo Chau Sâm N và bị hại ông Nguyễn Tấn P, ông Nguyễn Văn N2 về số tiền bồi thường:

Giao số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng) cho ông Nguyễn Tấn P nhận, theo biên lai thu số: 0004991 ngày 23/6/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, An Giang.

Giao số tiền 21.000.000 đồng (hai mươi mốt triệu đồng) cho ông Nguyễn Văn N2 nhận, theo biên lai thu số: 0004993 ngày 23/6/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, An Giang.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:

  • - 01 lưỡi hái bằng kim loại dài 46,8 cm, mũi nhọn, rộng nhất 2,5cm.
  • - 01 khúc gỗ màu nâu dài 28,5 cm, bề hoành lớn nhất 11cm, một đầu khúc gỗ có 01 vòng kim loại (phần cán của cây lưỡi hái).
  • - 01 cây búa dài 24,5 cm, cán bằng gỗ dài 21,5cm, phần lưỡi búa bằng kim loại sắc bén rộng nhất 5,5cm x 11,5cm, trọng lượng 400gam.

Trả lại cho ông C1 Nát xe mô tô biển số 67F1 – 447.73, nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, số máy E3S1E-125536, số khung RLCUE134OKY- 087877 do không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo N.

( Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A và Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên ngày 04/6/2025).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBNTQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Chau Sâm N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Riêng thời hạn kháng cáo vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND thị xã Tịnh Biên;
  • - Công An tỉnh An Giang;
  • - Công an Phường An Phú, TX Tịnh Biên;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Tịnh Biên;
  • - Chi cục THADS thị xã Tịnh Biên;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger