Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày: 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Vân

2/ Bà Lê Thị Phương Hồ

Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 355/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 18/2025/HSST-QĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn N, sinh năm: 1984 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi thường trú: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở: Nhà T, Tổ A, Ấp F, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy xe G mô tô; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L (chết) và bà Cao Thị N1; có vợ tên Nguyễn Thùy L1 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2020)

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024 (có mặt)

Bị hại: Bà Lê Thị B, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Số A đường V, Ấp I, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/5/2024, Phạm Văn N đi xe buýt một mình đến khu vực xã B, huyện C, Thành phố H tìm cơ hội thực hiện hành vi cướp tài sản. Ngoan đến quán cà phê võng không tên của bà Lê Thị B, tại số A đường V, Ấp I, xã B, huyện C uống cà phê và nằm võng chờ cơ hội. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, N nhìn thấy bà B có đeo nhẫn, vòng đeo tay bằng vàng, trong quán vắng người không còn khách nên N đi đến quầy bán nước gọi bà B làm cho một ly nước cam. Trong lúc bà B đang làm nước cam thì N đứng phía sau lưng bất ngờ dùng tay trái đánh thật mạnh từ phía sau, từ trái sang phải trúng vào gò má trái của bà B làm bà B choáng váng, tay phải siết chặt cổ bà B mục đích không cho tri hô. Đồng thời, N dùng tay kéo cổ áo thun của bà B tìm tài sản là dây chuyền vàng để chiếm đoạt nhưng không có dây chuyền vàng nên N chưa chiếm đoạt được tài sản. Bà B vùng vẫy tri hô, N bỏ chạy được khoảng 40 mét thì bị quần chúng nhân dân truy đuổi bắt giữ. Qua làm việc, N khai nhận hành vi như trên, trong lúc bắt giữ có nhiều người dân đánh, đá gây thương cho N nhưng N không yêu cầu xử lý hình sự.

Kết luận định giá tài sản số 76/KL-HĐĐGTS ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (Một) bộ vòng ximen gồm 10 (mười) chiếc vòng bằng vàng 18K, tổng trọng lượng là 06 (sáu) chỉ; 04 (bốn) chiếc nhẫn đeo tay bằng vàng 18K, tổng trọng lượng 3 (ba) chỉ theo bị hại cung cấp. Tổng trị giá tài sản trên là 50.090.000 đồng (bút lục 95-96)

Vật chứng, đồ vật tạm giữ: 01 (một) bộ vòng ximen bằng vàng gồm 10 (mười) chiếc vòng, tổng trọng lượng 06 (sáu) chỉ vàng 18K; 04 (bốn) chiếc nhẫn đeo tay bằng vàng, tổng trọng lượng 3 (ba) chỉ vàng 18K. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Thị Bích .

Về dân sự: bị hại Lê Thị B yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí thuốc men do ảnh hưởng từ hành vi dùng vũ lực của bị cáo tương đương số tiền 1.000.000₫

Tại Bản cáo trạng số 11/CT-VKS.CC ngày 20/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Cướp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị B yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000đ. Bị cáo Phạm Văn N đồng ý bồi thường số tiền trên. Đây là sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

* Bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng số 11/CT-VKS.CC ngày 20/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 06/5/2024, tại quán cà phê võng không tên của bà Lê Thị B, tại địa chỉ số A đường V, Ấp I, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phạm Văn N đã có hành vi dùng tay đánh, siết cổ bà Lê Thị B để chiếm đoạt tài sản là dây chuyền vàng của bà B nhưng chưa chiếm đoạt được do thực tế bà B không đeo dây chuyền. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng quy định pháp luật, đúng tội, đúng người. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Văn N đã phạm vào tội “Cướp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến tinh thần, tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người tại địa phương. Khi thực hiện hành vi bị cáo nhận thức được rằng hành vi của mình sẽ bị pháp luật trừng trị. Song bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội tới cùng chỉ vì cần tiền tiêu xài nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân bị cáo.

Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[3] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại bà Lê Thị B có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) bộ vòng ximen bằng vàng gồm 10 (mười) chiếc vòng, tổng trọng lượng 06 (sáu) chỉ vàng 18K và 04 (bốn) chiếc nhẫn đeo tay bằng vàng, tổng trọng lượng 3 (ba) chỉ vàng 18K, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lê Thị Bích L2 phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị B yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo N đồng ý bồi thường số tiền trên cho cho bị hại. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào Điều 35, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; cần buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật, tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Phạm Văn N đồng ý bồi thường cho bị hại bà Lê Thị Bích S tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), trả một lần số tiền trên ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 35, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo Phạm Văn N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền yêu cầu thi hành án:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND HCC;
  • - Chi cục THADS HCC;
  • - THAHS;
  • - Phòng PC53;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 06/5/2024, tại quán cà phê võng không tên của bà Lê Thị Bích, tại địa chỉ số 10 đường Võ Văn Bích, Ấp 9, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Phạm Văn Ngoan đã có hành vi dùng tay đánh, siết cổ bà Lê Thị Bích để chiếm đoạt tài sản là dây chuyền vàng của bà Bích nhưng chưa chiếm đoạt được do thực tế bà Bích không đeo dây chuyền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger