TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9- HẢI PHÒNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 35/2025/HS - ST
Ngày: 25-11-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thành.
2. Ông Nguyễn Trường Ca.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Tiến - Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 9 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị La - Kiểm sát viên.
- Những người hỗ trợ tại điểm cầu thành phần gồm có:
1. Ông Nguyễn Văn Sángáng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải
Phòng.
2. Bà Nguyễn Thị Hiêniên - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực
9 - Hải Phòng.
3. Ông Đỗ Hồng Hà - Cán bộ trại giam S1 - công an thành phố H.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
khu vực 9 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 2 công an
thành phố H, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm
công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 10
năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 12
tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Trịnh Thị H2, tên gọi khác: không; sinh ngày 13 tháng 9 năm 1978 tại xã M,
thành phố Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã M, thành phố Hải Phòng; trình
độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc
tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Trịnh Ngọc V và bà Nguyễn
Thị Đ; chồng là Lương Đức T và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giam ngày
25-7-2025.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Hải
Phòng.
+ Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Hải
Phòng.
(bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin vắng mặt).
-Người tham gia tố tụng khác: người làm chứng: Anh Nguyễn Văn K, anh
Nguyễn Văn T1, anh Lê Văn H3, anh Lê Đình H4, anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn
Thị Thu H5.
(người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2023 Trịnh Thị H2 có quen biết với anh Nguyễn Tuấn P, sinh
năm 1970 trú tại: số A ngõ I đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (nay
là phường L, TP Hà Nội). H2 giới thiệu với anh P mình làm về lĩnh vực xuất khẩu
lao động còn anh P giới thiệu hiện làm công việc bưng bê cho chuỗi nhà hàng V1 ở
Đức, hiện định cư ở Đức thỉnh thoảng về Việt Nam thăm gia đình. Ngoài ra trong
quá trình nói chuyện anh P trao đổi để H2 biết anh quen một số bạn bè người Việt
Nam ở Đức cũng làm về lĩnh vực xuất khẩu lao động nếu H2 muốn mở rộng thị
trường sang C anh P sẽ hỗ trợ, H2 đồng ý. Cụ thể mỗi trường hợp xuất cảnh chi phí
khoảng 300.000.000đồng sẽ xuất cảnh trong khoảng 03 tháng, lương ban đầu là
1.000 Euro và sẽ tăng lên theo kinh nghiệm; hồ sơ gồm hộ chiếu, ảnh cá nhân, sơ
yếu lý lịch, lý lịch tư pháp số 2, bằng cấp 2 hoặc cấp 3 và chứng chỉ nghề theo lĩnh
vực đăng ký lao động; khi hồ sơ đầy đủ các giấy tờ trên gửi cho anh P để anh P
mang hộ sang bên Đ1 nộp cho bộ phận xét duyệt hồ sơ khi nào thẩm duyệt hồ sơ
xong và thông báo đủ điều kiện thì người lao động mới phải đặt tiền cọc là 1.000
Euro phí chuyển đổi bằng, nếu không được sẽ hoàn trả lại tiền.
Năm 2023 H2 có quen biết với chị Nguyễn Thị Thu H5, sinh năm 1984, trú
tại số E B, phường H, TP H, tỉnh Hải Dương (nay là phường T, TP Hải Phòng)
thông qua H5 giới thiệu nên H2 quen biết với chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984 và
chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984, cùng trú tại thôn C, xã A, huyện N, tỉnh Hải
Dương (nay là xã T, TP Hải Phòng). H2 đã nói dối với chị N và chị A về việc đi
lao động sang Đức theo diện này rất ít nên phải đặt tiền cọc trước để giữ chỗ nếu
không đặt cọc ngay người khác sẽ đặt không còn xuất nữa còn hồ sơ thiếu chứng
chỉ nghề thì H2 sẽ cùng chị N và chị A hoàn thiện, nộp sau. Mục đích H2 đưa ra
thông tin gian dối nhằm để chị N và chị A tin tưởng là thật để chuyển tiền cho H2
và H2 sử dụng nguồn tiền này để trả nợ, chi tiêu cá nhân. Việc H2 nhận tiền của
chị N và chị A và sử dụng vào mục đích cá nhân cụ thể như sau: ngày 07-11-2023
chị N sử dụng tài khoản 46110000618731 của mình chuyển số tiền 26.000.000
đồng đến số tài khoản 0341006866213 ngân hàng V2 của H2 để đặt tiền cọc xuất
khẩu lao động cho anh Lê Văn H3, sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã L, huyện T,
thành phố Hải Phòng (nay là xã V, TP Hải Phòng), (anh H3 là người nhà chị N).
Sau khi nhận được tiền của chị N, H2 lấy số tiền đó trả nợ cho anh Nguyễn Khắc
T2, sinh năm 1980, trú tại: số C N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay là xã
G, TP Hải Phòng). Ngày 08-11-2023 chị N chuyển số tiền 28.000.000đồng để đặt
tiền cọc xuất khẩu lao động cho chồng là anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1985 trú tại
thôn C, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã T, TP Hải Phòng). Sau khi nhận
được tiền của chị N, H2 lấy số tiền đó trả nợ cho chị Hoàng Thị M, sinh năm 1991
trú tại Khu B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là xã C, TP Hải Phòng) và
trả nợ cho chị Trần Thị Ngọc A1, sinh năm 1993, trú tại số A ngõ A P, tổ C,
phường L, quận H, TP Hà Nội (nay là phường D, thành phố Hải Phòng).
Ngày 09-11-2023 chị N, chị A và chị H5 gặp H2 ở phòng tập Y của chị H5
tại tòa nhà H, đường N, phường T, TP H (nay là phường L, TP Hải Phòng). Tại đây
chị A chuyển cho Hằng số tiền 52.330.000 đồng để đặt tiền cọc xuất khẩu lao động
cho anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1989, trú tại P, xã P, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay
là xã C, tỉnh Gia Lai) và anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1990, trú tại: thị trấn T,
huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là xã T, TP Hải Phòng), (anh T1, anh K là những
người nhà chị A). Gồm anh T1 26.165.000 đồng, anh K 26.165.000 đồng. Sau khi
nhận được tiền của chị A chuyển, H2 đã sử dụng số tiền để trả nợ hết. Ngày 15-
11-2023 chị N chuyển số tiền 25.000.000đồng để đặt tiền cọc xuất khẩu lao động
cho anh Lê Đình H4, sinh năm 1988 trú tại thôn C, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương
(nay là xã T, TP Hải Phòng), (anh H4 là người nhà của chị N). Sau khi có tiền H2
đã lấy số tiền đó trả tiền thuê nhà cho chị Nguyễn Thị Diệu L, sinh năm 1980 trú
tại số G, ngõ H, tổ C, phường P, quận H, TP Hà Nội (nay là phường D, TP Hà
Nội).
Sau đó H2 nhận được hồ sơ của các anh H3, C, H4, K, T1 do chị N và chị A
chuyển trong 5 hồ sơ này chỉ có hồ sơ của anh H3 có bằng nghề cơ khí. Do cần
tiền để chi tiêu cá nhân nên H2 nói dối chị N và anh H3 về việc hồ sơ của anh H3
đã được duyệt và thúc giục anh H3 phải nộp thêm 26.000.000 đồng để H2 lo việc
cho anh Hội đồng T3 hứa hẹn anh H3 sẽ được xuất cảnh sớm hơn dự kiến. Tuy
nhiên thực chất tại thời điểm này hồ sơ của anh H3 chưa được xét duyệt, anh P
chưa yêu cầu phải nộp tiền phí chuyển đổi bằng. Do tin tưởng những thông tin H2
đưa ra là thật nên ngày 30-11-2025 chị N đã chuyển cho Hằng số tiền 26.000.000
đồng. Sau khi nhận được tiền H2 đã chuyển số tiền 11.776.715 đồng đến công ty
TNHH MTV H6 mua sản phẩm sữa số còn lại H2 chi tiêu cá nhân hết. Hồ sơ của
các anh C, H4, T1, K do không bổ sung được bằng nghề nấu ăn nên chị N và chị A
xin lại hồ sơ và tiền đặt cọc. H2 đã trả lại 04 bộ hồ sơ trên còn tiền đặt cọc H2 đã
chi tiêu cá nhân hết. Ngày 17-12-2023 anh P thông báo hồ sơ của anh H3 được
duyệt và bảo H2 đóng tiền phí chuyển đổi bằng cho Hội là 1.000 Euro H2 đồng ý
nhưng chưa có tiền nên H2 nhờ anh P ứng ra trước, đến ngày 21-12-2023 H2
chuyển trả cho anh P số tiền 26.400.000đồng (tương đương 1.000 Euro). Do thay
đổi về chính sách yêu cầu người lao động cần phải biết tiếng Anh giao tiếp cơ bản,
anh H3 không đáp ứng được nên hồ sơ của anh H3 không được duyệt nên ngày 29-
04-2024 anh P thông báo cho H2 biết hồ sơ của H3 không được duyệt và chuyển
trả cho H2 26.400.000đồng. Sau khi nhận được tiền hoàn trả, H2 đã sử dụng chi
tiêu cá nhân hết. Do nhiều lần chị N, chị A yêu cầu H2 hoàn trả tiền nhưng H2
không trả được nên đã làm đơn trình báo cơ quan công an để giải quyết theo quy
định. Như vậy H2 đã chiếm đoạt của chị N tổng số tiền 105.000.000 đồng gồm hồ
sơ anh H3 52.000.000đồng, anh C 28.000.000đồng, anh H4 25.000.000 đồng;
chiếm đoạt của chị A 52.330.000 đồng gồm hồ sơ anh T1 26.165.000 đồng, anh K
26.165.000 đồng. Tổng số tiền H2 chiếm đoạt của chị N, chị A là 105.000.000
đồng + 52.330.000 đồng = 157.330.000 đồng
Việc thu giữ đồ vật, vật chứng lưu hồ sơ: 01 phiếu lý lịch tư pháp số 2; 01 bản
phô tô công chứng giấy khai sinh; 01 bản phô tô công chứng CCCD; 01 bản phô tô
công chứng bằng nghề; 01 bản sơ yếu lý lịch tự thuật; 01 học bạ trung học phổ
thông; 01 bằng tốt nghiệp trung học phổ thông của anh Lê Văn H3 (cơ quan cảnh
sát điều tra công an thành phố H đã trả cho anh H3) và 27 ảnh chụp tin nhắn zalo
giữa Trịnh Thị H2 và chị Nguyễn Thị N; chị Nguyễn Thị A có liên quan đến nội
dung vụ án. Anh H3 giao nộp 16 ảnh chụp tin nhắn zalo giữa anh Lê Văn H3 và
Trịnh Thị H2 có liên quan đến nội dung trao đổi giữa anh H3 và H2 có liên quan
nội dung vụ án. Chị A giao nộp 15 ảnh chụp tin nhắn zalo giữa Trịnh Thị H2 và chị
Nguyễn Thị A có liên quan đến nội dung vụ án. Anh Nguyễn Tuấn P giao nộp: 01
bản phô tô phiếu lý lịch tư pháp số 2 của anh H3; 01 bản dịch phiếu lý lịch tư pháp
số 2 từ tiếng Việt sang tiếng Đức; 01 bản lời chứng của công chứng viên thuộc văn
phòng C1; 01 bản phô tô bằng tốt nghiệp trung học phổ thông của anh H3; 01 bản
dịch bằng tốt nghiệp trung học phổ thông từ tiếng Việt sang tiếng Đức; 01 bản lời
chứng của công chứng viên thuộc văn phòng C1; 01 bản phô tô bằng nghề của anh
H3; 01 bản dịch bằng nghề từ tiếng Việt sang tiếng Đức; 01 bản lời chứng của
công chứng viên thuộc văn phòng C1; 01 bản phô tô sổ kết quả học tập của anh
H3; 01 bản dịch sổ kết quả học tập từ tiếng Việt sang tiếng Đức; 01 bản lời chứng
của công chứng viên thuộc văn phòng C1; 01 bản phô tô sơ yếu lý lịch tự thuật; 01
bản dịch sơ yếu lý lịch tự thuật từ tiếng Việt sang tiếng Đức; 01 bản lời chứng của
công chứng viên thuộc văn phòng C1. Công ty cổ phần H7 tự nguyện giao nộp: 01
bản phô tô công chứng giấy chứng nhận doanh nghiệp; 01 bản phô tô công chứng
Quyết định giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ tư vấn du học; 01 bản
phô tô giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh công ty cổ phần H7.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị N đã tự bỏ tiền trả cho các anh H3,
anh C, anh H4; chị Nguyễn Thị A đã tự bỏ tiền trả cho anh T1, anh K, bị cáo H2
chưa trả tiền cho chị N, chị A.
Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 27-10-2025 Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 9 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Trịnh Thị H2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu. Bị cáo khai do
cần tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo nhận
thức được hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật do mình gây ra và vô cùng ân
hận. Tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp công việc ổn định từ khi bị tạm giam
lại mắc bệnh huyết áp cao nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng giữ nguyên quan
điểm truy tố theo bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2
Điều 174, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52,
khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106,
khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.Tuyên bố bị cáo Trịnh Thị H2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt
bị cáo Trịnh Thị H2 từ 04 năm 6 tháng đến 5 năm tù tính từ ngày tạm giam. Về
trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trịnh Thị H2 có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị
N số tiền 105.000.000đ; buộc bị cáo Trịnh Thị H2 có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn
Thị A số tiền 52.330.000đ. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí
hình sự sơ thẩm và 7.866.500 án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra công an thành phố H, điều
tra viên, viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Hải Phòng, kiểm sát viên thu thập,
những người tham gia tố tụng cung cấp; hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra
viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra,
truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó những chứng cứ, tài
liệu đã thu thập, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo Trịnh Thị H2 tại phiên toà phù hợp với lời khai,
biên bản ghi lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác
có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Năm 2023 mặc dù không có chức
năng làm trong lĩnh vực đưa người đi xuất khẩu lao động nhưng Trịnh Thị H2 vẫn
đưa ra thông tin gian dối về việc có thể đưa người đi xuất khẩu lao động tại Cộng
hoà liên bang Đ1 đồng thời yêu cầu những người muốn đi xuất khẩu lao động phải
nộp tiền đặt cọc. Do tin tưởng H2 tháng 11-2023 chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984
trú tại thôn C, xã T, TP Hải Phòng đã chuyển cho H2 tổng số tiền là 105.000.000
đồng để làm thủ tục cho 03 người nhà là các anh Lê Văn H3, Nguyễn Văn C và Lê
Đình H4 đi xuất khẩu lao động tại Đức. Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984 trú tại
thôn C, xã T, TP Hải Phòng chuyển cho H2 tổng số tiền là 52.330.000 đồng để làm
thủ tục cho 02 người nhà là các anh Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn T1 đi xuất khẩu
lao động tại Đức. Sau khi nhận tiền của chị N, chị A chuyển, H2 đã sử dụng chi
tiêu cá nhân hết, không thực hiện việc đưa người đi xuất khẩu lao động. Tổng số
tiền H2 đã chiếm đoạt của chị N, chị A là 157.330.000 đồng.
Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu
biết về pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng
đã cố ý dùng thủ đoạn gian dối nói mình có thể đưa người xuất khẩu lao động, đưa
các thông tin không đúng sự thật nhằm là các bị hại tin tưởng giao tài sản cho bị
cáo nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không
chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp
luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trị an, gây hoang mang trong quần chúng
nhân dân. Đây là những khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ do
vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo
điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 -
Hải Phòng truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
[3].Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần gian dối
chiếm đoạt của các bị hại nhiều lần tài sản nên phải phải chịu tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều
52 Bộ luật hình sự.
[4].Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng
như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận tội, bố đẻ của bị cáo là ông Trịnh
Ngọc V được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Do vậy
bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s
khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhân thân tốt.
Bị cáo có hành vi gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại thể
hiện sự coi thường pháp luật nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị
cáo khỏi xã hội một thời gian đảm bảo mục đích trừng trị răn đe phòng ngừa tội
phạm.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt tài sản của các bị hại, chưa bồi
thường trả lại cho họ do vậy xét cần phải buộc bị cáo Trịnh Thị H2 có nghĩa vụ trả
cho chị Nguyễn Thị N số tiền 105.000.000đ; trả cho chị Nguyễn Thị A số tiền
52.330.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản
3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6]. Các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Tuấn P không được bị cáo H2
bàn bạc thống nhất, không liên quan đến hành vi phạm tội của H2 nên không vi
phạm, cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là phù hợp. Quá trình điều tra xác
định bị cáo còn nhận tiền của chị N cho 2 trường hợp Nguyễn Tiến T4, sinh năm
1986, trú tại: thôn C, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương (nay là xã T, TP Hải Phòng)
và Phạm Đình T5, sinh năm 1988, trú tại: xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương (nay là
xã B, TP Hải Phòng) nhưng ngay sau đó những người này đều không có nhu cầu đi
xuất khẩu lao động, H2 đã trả lại tiền ngay cho họ do vậy không đặt ra việc xử lý.
[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000đán phí hình sự sơ
thẩm và 7.867.000đ (đã làm tròn) án phí dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều
135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13
ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-
2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2
Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a
khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ
luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của ủy ban thường vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Trịnh Thị H2 phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trịnh Thị H2 4 (bốn) năm 3 (ba) tháng tù thời hạn chấp
hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giam 25-7-2025.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trịnh Thị H2 có nghĩa vụ trả cho chị
Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Hải Phòng số tiền
105.000.000đ; trả cho chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã T,
thành phố Hải Phòng số tiền 52.330.000₫
Về án phí: Bị cáo Trịnh Thị H2 phải nộp 200.00₫ án phí hình sự sơ thẩm và
7.867.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị A có đơn yêu cầu thi hành
án, nếu bị cáo Trịnh Thị H2 không chịu thi hành khoản tiền nêu trên còn phải trả
lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh
toán theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Thị H2 có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được
niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân
sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - VKSND khu vực 9- TP. Hải Phòng;
- · VKSND thành phố Hải Phòng;
- - Cơ quan CSĐT- công an TP. Hải Phòng;
- - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - CA TP. Hải Phòng;
- - THADS thành phố Hải Phòng;
- - Trại tạm giam số 2 công an TP. Hải Phòng;
- - Bị cáo;
- - Bị hại:
- - Phòng PC 10 - CA TP.Hải Phòng;
- - Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Hằng
Bản án số 35/2025/HS - ST ngày 25/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 35/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Năm 2023 mặc dù không có chức năng làm trong lĩnh vực đưa người đi xuất khẩu lao động nhưng Trịnh Thị H vẫn đưa ra thông tin gian dối về việc có thể đưa người đi xuất khẩu lao động tại Cộng hoà liên bang Đức đồng thời yêu cầu những người muốn đi xuất khẩu lao động phải nộp tiền đặt cọc. Do tin tưởng Hằng tháng 11-2023 chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1984 trú tại thôn Cõi Hưng Sơn, xã Thái Tân, TP Hải Phòng đã chuyển cho H tổng số tiền là 105.000.000 đồng để làm thủ tục cho 03 người nhà là các anh Lê Văn Hội, Nguyễn Văn C và Lê Đình H đi xuất khẩu lao động tại Đức. Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984 trú tại thôn Cõi Hưng Sơn, xã Thái Tân, TP Hải Phòng chuyển cho Hằng tổng số tiền là 52.330.000 đồng để làm thủ tục cho 02 người nhà là các anh Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn T đi xuất khẩu lao động tại Đức. Sau khi nhận tiền của chị N, chị A chuyển, H đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, không thực hiện việc đưa người đi xuất khẩu lao động. Tổng số tiền H đã chiếm đoạt của chị Nh, chị A là 157.330.000 đồng.
