TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày 21/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG - TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Linh
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ma Quốc Thể
- Ông Trần Hữu Lượng
- - Thư ký phiên toà: Bà Hà Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2025/TLST-HS, ngày 03 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/6/1992 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Trú tại: thôn P, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; A, chị em ruột: có 04 người, bị cáo là thứ tư; Vợ: Tạ Thị Vân A, sinh năm 1989 (đã ly hôn), Vợ Trần Thị T2, sinh năm 1996 (đã ly hôn); Con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/01/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
* Bị hại: anh Phạm Trung T3, sinh năm 2001, trú tại: thôn V, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian tháng 11/2024, Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, cư trú tại thôn P, xã T, huyện S có quen biết với Phạm Trung T3, sinh năm 2001, cư trú tại thôn V, xã Đ, huyện S. Sau đó T3 nhờ T mua giúp cho T3 01 chiếc xe mô tô, loại xe nhãn hiệu Honda SH, loại 160 phân khối, màu sơn trắng hoặc đen đã qua sử dụng. T nói với T3 phải đặt cọc tiền để mua xe là 3.000.000 đồng. T3 đồng ý, ngày 15/01/2025 chuyển số tiền 3.000.000 đồng vào số tài khoản 108600170692 của T mở tại ngân hàng V. Tín hẹn T3 đến khoảng ngày 27, 28/01/2025 (tức ngày 28, 29 tết âm lịch) thì sẽ có xe. Sau khi nhận được số tiền 3.000.000 đồng thì T sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T hỏi vay T3 số tiền 5.000.000 đồng mục đích để mua 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave đã qua sử dụng và hẹn đến ngày 16/01/2025 bán xe xong sẽ trả tiền cho T3, T3 đồng ý và chuyển cho T số tiền 5.000.000 đồng vào số tài khoản của T, T sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Do thấy T3 có nhiều tiền và bản thân khi đó không có tiền chi tiêu cá nhân, không có tiền để mua bán xe mô tô đã qua sử dụng nên T nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tài sản (tiền) của T3.
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 21/01/2025, T nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho T3 và đưa ra thông tin gian dối với nội dung sắp tới có đoàn của Công an kinh tế huyện S xuống kiểm tra việc kinh doanh điện thoại của T3 do nghi vấn T3 kinh doanh hàng nhập lậu. T nói với T3 có quen biết với một cán bộ Công an kinh tế huyện S tên là T4, T có thể giúp T3 liên hệ với T4 để Công an kinh tế huyện S không xuống kiểm tra việc kinh doanh điện thoại của T3 nên T3 tin tưởng và nhờ T giúp. Tín gửi cho T3 số điện thoại 0966.026.xxx và nói đây là số của T4 để T3 tự liên hệ (thực tế số điện thoại này T đang sử dụng nhưng không đăng ký chính chủ). Sau đó, T3 gọi điện vào số điện thoại 0966.026.xxx thì Tín giả giọng nói người tên T4. Quá trình nói chuyện, T giả giọng nói người tên T4 nói với T3: “Mai chuẩn bị ba phong bì mỗi 01 chiếc để số tiền 5.000.000 đồng; tổng số tiền là 15.000.000 đồng để anh lo lót cấp trên và lãnh đạo cho”. T3 tin tưởng người tên T4 là người quen của T có thể giúp được T3. Sau đó, T3 gọi điện thoại di động cho T thì T nói: “Sáng ngày 22/01/2025 anh có việc qua chỗ T4, chuẩn bị ba cái phong bì đi anh cầm giúp lên chỗ T4 cho” và hẹn T3 đem 03 phong bì trong có 15.000.000 đồng tại khu vực gần cổng Uỷ ban nhân dân xã T thuộc thôn T, xã T, T3 đồng ý. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T3 đem 03 phong bì bên trong mỗi phong bì có số tiền 5.000.000 đồng đưa cho T tại khu vực thuộc thôn T, xã T, huyện S, T cầm tiền rồi đi về. Trên đường về, T tiếp tục điện thoại và nói với T3: “Tấn nói là cần phải lo thêm cho cấp trên số tiền 5.000.000 đồng nữa, nên em chuyển thêm cho T4 để lo việc”; T3 tin tưởng và đồng ý rồi sử dụng tài khoản ngân hàng M, số tài khoản 11002001222999 mang tên PHAM TRUNG THANH chuyển số tiền 5.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V1, số tài khoản 108600170692 mang tên NGUYEN VAN TIN của T. Số tiền T chiếm đoạt của T3 là 20.000.000 đồng. Sau đó, T không đưa tiền cho ai mà giữ lại để chi tiêu cá nhân cho bản thân. Sau khi biết mình bị lừa đảo. Ngày 25/01/2025, T3 đã tố giác hành vi của T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Quá trình kiểm tra, xác minh tố giác về tội phạm, T đã khai nhận hành vi lừa đảo T3 20.000.000 đồng, đồng thời giao nộp 7.100.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng cho Cơ quan điều tra.
Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSSD, ngày 28/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố: Nguyễn Văn T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T theo tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ khoản 1, Điều 174; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 27/01/2025.
Về dân sự: Giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về phần bồi thường dân sự. Xét việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị hại xác nhận bị cáo đã bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm trả số tiền vay 8.000.000 đồng không liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên do hoàn cảnh bị cáo khó khăn nên bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm trả số tiền 7.100.000 đồng là tiền bị cáo đã tự nguyên nộp tại Cơ quan điều tra. Ngoài ra, bị hại không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự. Về phần hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị các xác định đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Đối với số tiền vay 8.000.000 đồng không liên quan đến hành vi bị cáo chiếm đoạt tài sản, bị cáo nhất trí trả cho bị hại số tiền 7.100.000 đồng mà bị cáo đã tự nguyện nộp cho Cơ quan điều tra. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng giao dịch qua tin nhắn, cuộc gọi điện thoại, sao kê ngân hàng, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ, ngày 21/01/2025, tại khu vực thuộc thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi đưa ra thông tin gian dối đối với anh Phạm Trung T3, để chiếm đoạt số tiền là 20.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác. Bị cáo nhận thức được hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung. Mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt bổ sung:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo hiện đang thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Văn C (là anh của bố bị cáo); bố mẹ bị cáo là ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị H có tham gia dân công hỏa tuyến; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[3] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên tòa, bị cáo có tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy, giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về phần bồi thường dân sự. Xét việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện S tạm giữ: Tiền ngân hàng N 7.100.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng, trong có lắp 01 sim vật lý của Nguyễn Văn T đã qua sử dụng.
HĐXX xét thấy, bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại 20.000.000 đồng; bị hại yêu cầu bị cáo trả số tiền vay 8.000.000 đồng, tuy nhiên do hoàn cảnh bị cáo khó khăn nên bị hại chỉ yêu cầu trả số tiền 7.100.000 đồng (là số tiền bị cáo đã tự nguyện nộp cho Cơ quan điều tra). Nên đối với số tiền 7.100.000 đồng tạm giữ của bị cáo cần tuyên trả lại cho bị hại.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus, màu vàng, trong có lắp 01 sim. Xét thấy bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên T4. Quá trình điều tra xác định không có người cán bộ nào tên là Tấn công T5 tại Công an huyện S nên không có căn cứ để điều tra, xử lý nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 27/01/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng, số máy MKUG2X/A, số IMEI 355734070507160, trong có lắp 01 sim vật lý của nhà mạng Viettel có dãy số in trên sim 8984048000934256620 của Nguyễn Văn T đã qua sử dụng.
- (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ngày 03/3/2025).
- - Trả lại cho bị hại anh Phạm Trung T3 số tiền 7.100.000đ (Bảy triệu một trăm nghìn đồng) tiền ngân hàng N.
- (Số tiền này Công an huyện S đã chuyển từ tài khoản tạm gửi của Công an huyện S đến tài khoản số: 3949.0.1064844.00000 là tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc nhà nước huyện S).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
| Ma Quốc Thể - Trần Hữu Lượng | Lê Tuấn Linh |
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Tuấn Linh |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
