|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HS-ST
Ngày: 24-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Nguyên.
- Ông Phạm Công Gia.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/HS-ST ngày 14/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử hình sự số 01/2025/TB-TA, ngày 13/02/2025, đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN QUANG V
- sinh năm: 1991; tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Kim T – sinh năm 1960 và bà Phan Thị N (đã chết); vợ: Phạm Thị Bích V1 – sinh năm 1995 và có 01 người con 07 tuổi; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 04/4/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 30/2013/HS-ST.
Ngày 20/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 19/2020/HS-ST.
Ngày 30/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 385/2021/HS-ST.
Nhân thân: Ngày 08/4/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 27/2009/HS-ST.
Ngày 26/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 02 năm.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/11/2024 đến ngày 26/11/2024 chuyển tạm giam hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt tại phiên tòa).
2. NGUYỄN HOÀI T1
- sinh năm: 1993; tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Thanh H (đã chết) và bà Hồ Thanh H1 – sinh năm 1957; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 06/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 116/2016/HS-ST.
Ngày 18/5/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 34/2018/HS-ST.
Nhân thân: Ngày 23/12/2024, bị Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai khởi tố bị can về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” tại Quyết định số 431/QĐ-ĐTTH.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/11/2024 đến ngày 26/11/2024 chuyển tạm giam hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai (có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Ông Nguyễn Văn H2 – sinh năm 1970. (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc T2 – sinh năm 1994.
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quang V và Nguyễn Hoài T1 là bạn bè quen biết với nhau, cả hai đều nghiện ma túy.
Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/11/2024, V đi làm từ huyện Đ về thì ghé nhà T1 rủ T1 đến nhà mình tại ấp B, xã P, huyện T chơi. Tại nhà mình, V rủ T1 đi trộm cắp tài sản để lấy tiền mua ma túy sử dụng thì T1 đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T1 lấy xe mô tô biển số 49M-6061 của V rồi chở V đi qua khu vực ấp B, xã P xem ai có sơ hở trong việc trông coi tài sản thì trộm cắp.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi ngang nhà ông Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1970, địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T thì phát hiện xe mô tô biển số 60P2-6405 của ông H2 để trong chòi. V nói với T1 là “có chiếc xe kia lấy không” thì T1 trả lời “lấy”. Sau đó, T1 đi vào nhà ông H2 sử dụng 01 tua vít mang theo từ trước bẻ khóa xe mô tô biển số 60P2-6405 của ông H2 rồi nổ máy điều khiển xe bỏ chạy. Đi được 01 đoạn thì T1 và V đổi xe cho nhau để tránh bị phát hiện. Ông Nguyễn Văn H2 sau khi phát hiện bị mất xe mô tô biển số 60P2-6405 thì truy hô và gọi điện kể sự việc cho ông Nguyễn Văn H2.
Lúc này, ông H2 đang ăn uống cùng con trai là anh Nguyễn Ngọc T2. Anh T2 cùng ông H2 và một số người dân tiến hành chặn đường thì phát hiện Nguyễn Quang V và Nguyễn Hoài T1 đang điều khiển xe với tốc độ cao bỏ chạy nên tiến hành truy bắt và trình báo tới công an xã P tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 16/11/2024. Thu giữ tang vật là xe mô tô biển số 49M-6061 và xe mô tô biển số 60P2-6405.
Tiến hành xét nghiệm chất ma tuy vào ngày 17/11/2024 tại Trạm Y tế xã P thì xác định Nguyễn Quang V và Nguyễn Hoài T1 đều dương tính với chất ma túy.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã xác định: “- 01 xe moto 2 bánh biển số 60P2-6405, hiệu Honda Wave màu sơn đỏ đen, SM: 5663989; SK: 193894. Đã qua sử dụng. Kết luận về trị giá còn lại của tài sản trên (Đã trích khấu hao): 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng).”
Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSTP-ĐN ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, không bổ sung gì thêm.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 về tội “Trộm cắp tài sản”, Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang V từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài T1 từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Văn H2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 60P2- 6405 là của ông Nguyễn Văn H2 làm chủ sở hữu bị mất cắp nên Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với 01 cái khóa chữ L, 8mm, dài 16cm, cạnh ngắn dài 3,5cm bằng kim loại màu bạc hiệu GS Rebel đây là công cụ phương tiện phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô biển số 49M-6061 là phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện tội phạm. Kết quả điều tra xác định đây là tài sản của bà Lê Thị N1 - sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Bà N1 khai nhận bị mất trộm chiếc xe nêu trên vào tháng 8 năm 2016 tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành chuyển nguồn tin về tội phạm và tang vật là xe mô tô biển số 49M-6061 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lâm Đồng để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với 01 tua vít là công cụ các bị cáo dùng vào thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị cáo Nguyễn Hoài T1 đã vứt bỏ nên Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả nên không có căn cứ xem xét.
Về các vấn đề khác:
Bị cáo Nguyễn Hoài T1 trong quá trình bị tạm giam để điều tra thì được trích xuất đi khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đ tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đến ngày 04/12/2024 thì bị can bỏ trốn đến ngày 05/12/2024 thì bị bắt lại.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo Nguyễn Hoài T1 về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo Điều 386 Bộ luật Hình sự để điều tra, xử lý trong vụ án khác.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có tranh luận với Kiểm sát viên.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để bị cáo nhanh chóng trở về chăm sóc cha mẹ già lúc ốm đau.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người bị hại ông Nguyễn Văn H2 và người làm chứng ông Nguyễn Ngọc T2 vắng mặt tại phiên tòa. Xét trong quá trình điều tra ông H2, ông T2 đã có lời khai đầy đủ và ông H2 cũng không có yêu cầu gì đối với các bị cáo V, T1 nên việc vắng mặt của ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Ngọc T2 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có căn cứ để xác định: Vào ngày 16/11/2024, các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 (chưa được xóa án tích và đã tái phạm) đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển số 60P2- 6405 của ông Nguyễn Văn H2 là chủ sở hữu, có trị giá 4.500.000 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, răn đe cũng như phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó các bị cáo tham gia với vai trò là người thực hành. Do đó, khi quyết định hình phạt, cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ.
Về tiền sự: Không có.
Về tiền án, nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Quang V có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” và 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Hoài T1 có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy nhiên, các bị cáo không biết ăn năn hối cải và lấy đó là bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi có ý nên cần có mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo; trên cơ sở xem xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử cần xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, vai trò để có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 cùng nhau bàn bạc thống nhất ý chí đi trộm cắp tài sản. Bị cáo Nguyễn Hoài T1 là người chuẩn bị công cụ phạm tội và trực tiếp dùng tô vít bẻ khóa xe mô tô biển số 60P2-6405 rồi nổ máy bỏ chạy. Sau khi điều khiển xe mô tô biển số 60P2-6405 bỏ chạy thì bị cáo T1 đổi xe cho bị cáo V để bị cáo V tiếp tục điều khiển xe mô tô 60P2-6405 bỏ chạy nên mức hình phạt đối với các bị cáo là tương đương nhau và phải là hình phạt tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Văn H2 đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển số 60P2-6405 và không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 mô tô biển số 60P2-6405 do ông Nguyễn Văn H2 làm chủ sở hữu bị mất cắp nên Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Bị cáo Nguyễn Hoài T1 trong quá trình bị tạm giam để điều tra thì được trích xuất đi khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đ đến ngày 04/12/2024 thì bị cáo T1 bỏ trốn đến ngày 05/12/2024 thì bị bắt lại. Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai đã khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Hoài T1 về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ” theo Điều 386 Bộ luật Hình sự để điều tra, xử lý trong vụ án khác là có căn cứ.
Quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Điều 292, Điều 293, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
1. Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Hình phạt:
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang V 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ (ngày 17/11/2024).
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài T1 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ tạm giữ (ngày 17/11/2024).
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái khóa chữ L, 8mm, dài 16cm, cạnh ngắn dài 3,5cm bằng kim loại màu bạc hiệu GS Rebel.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2025 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú).
4. Về án phí:
Các bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hoài T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/02/2025).
Đối với người bị hại vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Đức |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Quang V cùng đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản"
