TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 35/2025/HS - ST Ngày: 20-6-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Trường Ca.
2. Bà Vũ Thị Linh.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Tiến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 30-5-2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Văn H, tên gọi khác: không; sinh ngày 21 tháng 5 năm 1986 tại: thôn N, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Dương Văn T và bà Phạm Thị N; vợ là Đỗ Thị L và có 01 con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Vũ Xuân C, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
Người được ủy quyền: Ông Đặng Thái L1, sinh năm 1985; trú tại: Khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
- Người tham gia tố tụng khác: Anh Nguyễn Huy T1, anh Đỗ Huy H1 (người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18-11-2024 anh Vũ Xuân C đến trung tâm hành chính công tỉnh H làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng (máy xúc). Tại bộ phận một cửa anh C gặp Nguyễn Huy T1 là cán bộ Sở giao thông vận tải tỉnh H (nay là Sở xây dựng) tiếp nhận hồ sơ và hướng dẫn làm thủ tục. Sau khi làm thủ tục và nộp lệ phí 200.000đồng anh T1 bảo anh C sẽ có người có Sở giao thông vận tải liên lạc và về tận nơi để kiểm tra số khung, số máy chiếc máy xúc của anh C. Chiều ngày 18-11-2024 Dương Văn H ngồi quán nước trước cổng Trung tâm hành chính công tỉnh Hải Dương thì được một người đàn ông không rõ nhân thân lý lịch cho H số điện thoại 0979.963.xxx của anh C và bảo anh C đang có nhu cầu cà số khung, số máy. Dù không phải là người của Sở giao thông vận tải tỉnh H, không có chức năng cấp đăng ký và biển số cho xe chuyên dùng nhưng H sử dụng số điện thoại của mình là 0386.991.xxx lắp trên điện thoại Xiaomi Mi6x màu xanh gọi đến số điện thoại 0979.963.xxx của anh C và giới thiệu là người ở chỗ đăng ký xe của Sở G. Sau đó H hẹn sáng ngày 19-11-2024 đến nhà anh C để thực hiện việc cà số khung, số máy, anh C tin và đồng ý cho H địa chỉ nhà mình. Sáng ngày 19-11-2024 H đến nhà anh C tiến hành cà số khung, số máy và đưa cho anh C ký tên vào 02 tờ khai đăng ký xe máy chuyên dùng (H lấy mẫu trên mạng internet) và nói lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe và tiền công cà số khung, số máy là 3.500.000 đồng (theo H khai 700.000 đồng là tiền công còn lại là cà số khung, số máy và lệ phí để cấp giấy chứng nhận đăng ký và biển số xe là 2.800.000 đồng), anh C tin và đồng ý đưa cho H số tiền 3.500.000đồng. Ngày 22-11-2024 anh Đỗ Huy H1 là chuyên viên của phòng quản lý vận tải, phương tiện thuộc Sở giao thông vận tải tỉnh H được giao nhiệm vụ thẩm định hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đăng ký và biển số xe máy chuyên dùng đến nhà anh C để kiểm tra số khung, số máy theo quy định. Lúc này anh C mới biết là đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền 3.500.000đồng.
Khi sự việc bị phát hiện Dương Văn H đã đến nhà anh C để trả lại số tiền trên, anh C không có nhà nên H đã đưa số tiền 3.500.000 đồng cho anh Đặng Thái L1, sinh năm 1985, trú tại: khu dân cư T, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương (anh vợ của anh C) nhờ anh L1 đưa lại nhưng anh C không nhận nên anh L1 đã giao nộp số tiền trên cho cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh H. Tại cơ quan điều tra Dương Văn H đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại Xiaomi Mi6x màu xanh, lắp sim số 0386.991.986.
Việc thu giữ đồ vật, vật chứng: 01 điện thoại Xiaomi Mi6x màu xanh, số imei 01: 868042032506696; số imei 02: 868042032506704 kèm sim số 0386.991.986; số tiền 3.500.000 đồng do anh Đặng Thái L1 giao nộp cơ quan cảnh sát điều tra.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 27-5-2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Dương Văn H về “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu. Bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật do mình gây ra và vô cùng ân hận. Tuy nhiên bị cáo còn phải nuôi con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng án treo cải tạo tại địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47; khoản 1, 2,5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Dương Văn H từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ khi tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi MI6x màu xanh; tịch thu tiêu hủy sim điện thoại số 0386.991.xxx đồng thời tịch thu số tiền hiện có trong tài khoản thuê bao di động nộp ngân sách nhà nước; kiến nghị doanh nghiệp V thu hồi số thuê bao di động. Về trách nhiệm dân sự: Trả lại cho anh Vũ Xuân C số tiền 3.500.000đ. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra công an tỉnh H, điều tra viên, viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, kiểm sát viên thu thập, những người tham gia tố tụng cung cấp; hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo Dương Văn H tại phiên toà phù hợp với lời khai, biên bản ghi lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 19-11-2024 tại khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Dương Văn H biết thông tin anh Vũ Xuân C đang có nhu cầu xin cấp giấy chứng nhận đăng ký và biển số xe máy chuyên dùng. Mặc dù không có chức năng, nhiệm vụ nhưng H đã đưa ra thông tin gian dối và tự nhận là người của bộ phận đăng ký của Sở Giao thông vận tải tỉnh H (nay là Sở xây dựng) để cà số khung, số máy cho chiếc máy xúc làm anh C tin là thật và chiếm đoạt số tiền 3.500.000đồng của anh C.
Bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết về pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã cố ý dùng thủ đoạn gian dối nói là người của cơ quan Nhà nước có chức năng cà số khung, số máy cho chiếc máy xúc nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Đây là những khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ.
[3].Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận tội, phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4]. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhân thân tốt.
Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhân thân tốt, lần đầu phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng đảm bảo mục đích trừng trị răn đe phòng ngừa tội phạm.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tự nguyện trả lại số tiền 3.500.000đồng đã chiếm đoạt. Đại diện ủy quyền của bị hại nhất trí nhận lại số tiền 3.500.000đ không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Xét số tiền này hiện đang tạm gửi tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh nên cần phải trả lại cho bị hại theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6]. Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông theo H khai cho H số điện thoại của anh Vũ Xuân C không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý.
[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo
quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, Điều 38, điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Dương Văn H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Dương Văn H 7 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Dương Văn H cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian bị cáo chịu thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Trả lại số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng chẵn) cho anh Vũ Xuân C, sinh năm 1988 trú tại khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương (theo Giấy nộp tiền và Lệnh thanh toán tại ngân hàng A ngày 06 tháng 6 năm 2025).
Về xử lý vật chứng: tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Mi6x màu xanh, số imei 01: 868042032506696; số imei 02: 868042032506704; tịch thu tiêu hủy sim số 0386.991.986. Kiến nghị tập đoàn C1 thu hồi thuê bao số 0386.991.986 mang tên Dương Văn H đồng thời tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 23đ hiện có trong tài khoản thuê bao di động (tình trạng vật chứng được mô tả chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05 -6-2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương).
Về án phí: Bị cáo Dương Văn H phải nộp 200.00₫ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hằng |
Bản án số 35/2025/HS - ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 35/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sáng ngày 19-11-2024 tại khu dân cư Trụ Thượng, phường Đồng Lạc, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Dương Văn H biết thông tin anh Vũ Xuân C đang có nhu cầu xin cấp giấy chứng nhận đăng ký và biển số xe máy chuyên dùng. Mặc dù không có chức năng, nhiệm vụ nhưng H đã đưa ra thông tin gian dối và tự nhận là người của bộ phận đăng ký của Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dương (nay là Sở xây dựng) để cà số khung, số máy cho chiếc máy xúc làm anh C tin là thật và chiếm đoạt số tiền 3.500.000đồng của anh C.
