Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày: 17-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Quàng Văn Tiện.
  2. Bà Lò Thị Thành.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 05/12/2025, đối với bị cáo:

Cứ A L, tên gọi khác: Không, sinh năm 1982; nơi cư trú: Bản N, xã C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Cứ A C và con bà: Mùa Thị D (đã chết); vợ: Phặng Thị D1; con: 05 người con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2024); tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Năm 2005 bị Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 11 năm tù giam về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý.

- Bị bắt giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam Sông Mã từ ngày 24/7/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 04 giờ 30 phút ngày 24/7/2025, tổ công tác Công an xã C, tỉnh Sơn La phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu C1 làm nhiệm vụ rà soát các đối tượng nghi sử dụng chất ma túy tại khu vực bản N, xã C, tỉnh Sơn La. Khi tổ công tác đến nhà gặp Cứ A, yêu cầu L giao nộp các đồ vật có liên quan đến hành vi vi phạm, L đã lấy trong túi quần bên trái để ở giường ngủ giao nộp cho tổ công tác: 01 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 60 viên nén màu hồng (nghi là Hồng phiến).

Cùng ngày 24/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Cứ A, kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 25/7/2025, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S (tổ địa bàn khu vực Sông M) đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu gửi giám định, kết quả: Cân tách bì 60 viên nén màu hồng trong gói nilon màu xanh thu giữ của Lau có tổng khối lượng 5,62 gam. Trích 05 viên có tổng khối lượng 0,48gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A. Còn lại 55 viên có tổng khối lượng 5,14gam ký hiệu B.

Tại Kết luận giám định số 892/KL-KTHS ngày 31/7/2025 của phòng K Công an tỉnh S kết luận:

“Mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 5,62gam; loại Methamphetamine”.

Quá trình Điều tra xác định được như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 14/7/2025, Cứ A một mình đi bộ từ nhà mang theo số tiền 1.200.000 đồng (là tiền do L lao động, tiết kiệm mà có) đến khu vực đường tuần tra biên giới thuộc bản N, xã C, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến khu vực đường tuần tra biên giới, L gặp và hỏi mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ 70 viên H phiến với giá 1.200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L mang về nhà và đã trích ra sử dụng hết 10 viên Hồng phiến, còn lại 60 viên Hồng phiến Lau cất giấu trong túi quần bên trái để ở giường ngủ của L. Đến khoảng 04h00' ngày 24/7/2025 khi L đang ở nhà thì bị tổ công tác đến nhà phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cáo trạng số: 34/CT-VKS-KV3 ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La, truy tố Cứ A L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 số 86/2025/QH15).

Tại phiên toà:

- Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là không oan sai.

- Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2025). Xử phạt bị cáo từ 05 năm 08 tháng đến 06 năm tù. Bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí nên miễn án phí cho bị cáo; vật chứng khác xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an tỉnh S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

  • - Ngày 24/7/2025, bị cáo Cứ A L bị tổ công tác Công an xã C và Đồn Biên phòng cửa khẩu C1, tỉnh Sơn La bắt quả tang về hành vi cất giấu 60 viên nén màu hồng, có khối lượng 5,62 gam - Theo kết luận giám định số 892 ngày 31/7/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công tỉnh K kết luận là chất ma túy, thuộc loại Methamphetamine. Mục đích để sử dụng cá nhân.

  • - Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến do công an xã C lập hồi 04 giờ 30 phút ngày 24/7/2025. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Cứ A L đã phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 số 86/2025/QH15). Như vậy, việc khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an, gây bức xúc trong nhân dân và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác tại địa phương.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Bị cáo đã từng có tiền án, tuy nhiên đã được xóa án tích.

  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và căn cứ vào khối lượng ma tuý bị cáo Tàng trữ, cần có mức hình phạt nghiêm khắc và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho bị cáo cai bỏ ma tuý.

[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:

  • - Số ma túy thu giữ được trong vụ án, theo bị cáo khai mua được từ một người đàn ông không rõ lai lịch, tại khu vực bản N, xã C, tỉnh Sơn La nên cơ quan Điều tra không có cơ sở để Điều tra mở rộng vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.

  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Cứ A L. Quá trình điều tra xác định bị cáo không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Điều tra Công an tỉnh S không đặt vấn đề xử lý đối với Cứ A L về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý là có căn cứ.

[6] Vật chứng của vụ án còn lại: 5,14 gam Methamphetamine và các đồ vật liên quan. Đây là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ý kiến bị cáo tại phiên tòa xin được miễn án phí. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền), đồng thời miễn án phí cho bị cáo.

[8] Về quan điểm của Kiểm sát viên như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ theo Luật số 86/2025/QH15).

    Tuyên bố bị cáo Cứ A L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Xử phạt: Cứ A L 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2025.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 5,14 gam Methamphetamine chứa trong 01 túi Nilon màu xanh ký hiệu B; được đựng trong 01 (một) Phong bì thư do Bưu điện V phát hành được niêm phong dán kín. (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 32 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Sơn La và biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2025 giữa Phòng THADS khu vực 3-Sơn La và Công an tỉnh S).

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 17/12/2025.

Nơi nhận:

  • -Toà án tỉnh Sơn La;
  • -VKS khu vực 3-Sơn La;
  • -Cơ quan THAHS tỉnh Sơn La;
  • -Phòng THADS khu vực 3 - Sơn La;
  • -Bị cáo;
  • -Công an tỉnh Sơn La;
  • -Lưu HS;
  • -Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lường Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cứ A L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger