Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC I

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày: 17 - 11 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Phan Thị Lan Hương và ông Trương Quang Lương
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 02 tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Hoàng Ngọc A, sinh ngày 15 tháng 9 tháng 1990 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M và bà Phạm Thị H; có vợ và 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019. Về nhân thân: Ngày 25/6/2007 sử dụng trái phép chất ma tuý Hoàng Ngọc A bị Công an T xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo. Ngày 06/7/2007 Hoàng Ngọc A có hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng bị Công an T xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 17/7/2025, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay; bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người chứng kiến: Ông Trần Ngọc K, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt tại điểm cầu trung tâm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 17/7/2025, tại phòng ngủ tầng 2 nhà số A đường H thuộc Tổ dân phố B, phường Đ, tổ công tác Công an phường Đ bắt quả tang Hoàng Ngọc A đang tàng trữ 01 túi nilon bên trong chứa 41 viên nén hình tròn màu hồng. Ngọc A khai là ma tuý loại hồng phiến. Hoàng Ngọc A khai nhận: Khoảng 20h00 ngày 12/7/2025, Hoàng Ngọc A gặp một người bạn quen biết xã hội tên là “Ngờ”, không rõ lý lịch ở thị xã B (cũ) tại khu vực gần nhà thờ T1 thuộc phường Đ. Ngọc A nói với “Ngờ” dạo này thường xuyên làm đêm nên “Ngờ” cho Ngọc A một túi nilon, khi mở ra Ngọc A phát hiện bên trong là ma tuý loại hồng phiến. Ngọc A không kiểm đếm số ma tuý trên, đem về phòng mình ở tầng 2, nhà số A đường H. Ngọc A đã sử dụng 01 viên, số còn lại bỏ trong 01 túi nilon cất giấu trên bàn trong phòng ngủ để sử dụng dần. Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 17/7/2025, khi đang ở một mình trong phòng ngủ tầng 2 thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang cùng tang vật.

Theo Kết luận giám định số: 818/KL-KTHS ngày 19/7/2025 của Phòng K1, Công an tỉnh Q kết luận: 41 viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY”, tổng khối lượng: 3,969 - Ký hiệu A là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 3,969 gam. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ các vật chứng, gồm: 01 phong bì thư dán kín, trên ghi “818/KL-KTHS” được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11, màu xanh, số IMEI 1: 352681233017350, bên trong chứa sim 0833.067.894, mặt sau điện thoại bị nứt vỡ.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSKV1-MT ngày 30 tháng 9 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hoàng Ngọc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Điều 38 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt Hoàng Ngọc A từ 3 năm đến 3 năm 06 tháng tù; Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định; trả cho Hoàng Ngọc A 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11. Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên toà, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Hoàng Ngọc A thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp phạm tội quả tang xảy ra ngày 17/7/2025; căn cứ Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 1; Điều 3; Điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Bộ luật hình sự hành thì bị cáo Hoàng Ngọc A thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 được áp dụng Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo.

[2] Về tội danh:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Ngọc A thống nhất khai nhận khoảng 11 giờ 10 phút ngày 17/7/2025, tại phòng ngủ tầng 2 nhà số A đường H thuộc Tổ dân phố B, phường Đ, Hoàng Ngọc A đang có hành vi tàng trữ 3,969 gam ma túy, loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện và bị thu giữ.

Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với nội dung Biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó, có đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Hoàng Ngọc A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, chất gây nghiện. Việc sử dụng ma tuý không những gây tổn thương não bộ, suy giảm trí nhớ gây tác hại cho sức khỏe của chính bị cáo mà gây ra những hành vi nguy hiểm khác cho xã hội.

Bị cáo là người đã trưởng thành, đã có gia đình, có đầy đủ năng lực để nhận thức hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là trái pháp luật, nguy hiểm cho bản thân và xã hội; hành vi đó không chỉ xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội nói chung, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, trong năm 2007 bị cáo đã 2 lần bị Công an T xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng bị cáo không tự rèn luyện bản thân để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội mà tiếp tục phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phải xét xử thật nghiêm và phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật cho bị cáo.

Khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo tuy có công việc nhưng ốm đau thường xuyên, bị cáo có 02 người con còn nhỏ; ông bà của bị cáo có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trong vụ án này, có đối tượng tên là “Ngờ” bán ma tuý cho Hoàng Ngọc A, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa xác định được. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì thư dán kín, trên ghi “818/KL-KTHS” được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có 3,81gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, lưu hành. Vì vậy, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11, màu xanh, số IMEI 1: 352681233017350, bên trong chứa sim 0833.067.894, mặt sau điện thoại bị nứt vỡ không liên quan đến vụ án nên áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc A 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/7/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Ngọc A với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

  1. Về xử lý vật chứng vụ án:

    Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín, trên ghi "818/KL-KTHS” được niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có 3,81 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

    Trả cho bị cáo Hoàng Ngọc A 01 điện thoại di động hiệu IPHONE 11, màu xanh, số IMEI 1: 352681233017350, bên trong chứa sim 0833.067.894, mặt sau điện thoại bị nứt vỡ, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị).

  2. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Ngọc A phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Q;
  • - VKSND khu vực 1 - Quảng Trị;
  • - THADS tỉnh Q;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Lan Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC I, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger