|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày: 14 - 3 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phượng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thu Hương
2. Ông Vũ Tiến Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Đặng Cao Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần là Phân trại tạm giam khu vực thành phố T - Công an tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2025:
* Tại điểm cầu thành phần, đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh ngày 31/10/1962, tại Thái Bình;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số nhà B, phố N, tổ B, phường L, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Chỗ ở hiện tại: Số nhà B, ngõ A, đường L, tổ E, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn T1 (đã chết) và bà: Lê Thị L (đã chết); vợ: Vũ Thị M (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Bản án số 174/HSST ngày 26/8/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình tuyên phạt Đỗ Văn T 06 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xử phạt bổ sung 10.000.000 đồng, T phải nộp 50.000 đồng án phí. Tháng 4/2006 T chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 31/8/2012 T đã nộp 505.000 đồng tiền phạt bổ sung. Số tiền 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 9.495.000 đồng phạt bổ sung, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình đã ra Quyết định đình chỉ số 27/QĐ-CCTHA ngày 21/3/2013.
Bản án số 187/2014/HSST ngày 21/10/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên phạt Đỗ Văn T 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 21/5/2017 T chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 22/4/2015 T nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
+ Bản án số 02/2018/HSST ngày 04/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình tuyên phạt Đỗ Văn T 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 15/8/2019 T chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 08/02/2018 T đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27 ngày 17/10/2006 của Công an thành phố T phạt cảnh cáo Đỗ Văn T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
+ Quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh số 1132/QĐ- CT ngày 07/12/2006 của Ủy ban nhân dân thành phố T đối với Đỗ Văn T, thời gian 12 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 08/12/2007.
+ Quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa vào cở sở giáo dục số 1369/QĐ-UBND ngày 21/5/2008 của UBND tỉnh T đối với Đỗ Văn T thời hạn 24 tháng.
+ Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã hôi số 4805/QĐ-CT ngày 24/11/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố T xong quyết định ngày 29/11/2012.
+ Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục- Lao động xã hội số 1310/QĐ-CT ngày 16/5/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố T đối với Đỗ Văn T 12 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 07/5/2014.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 232/QĐ/XPVPHC ngày 15/8/20214 của Công an thành phố T, xử phạt 1.500.000 đồng đối với Đỗ Văn T về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 20/8/2014 T có đơn đề nghị không thi hành được quyết định nhưng đến nay Cơ quan Công an không trả lời.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến 24/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố T – Trại tạm giam Công an tỉnh T;
(Trích xuất có mặt tại phiên toà)
* Tại điểm cầu trung tâm:
- Người chứng kiến:
- Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1985
- Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973
Trú tại: Số nhà A, tổ E, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Trú tại: Số nhà F, ngõ A, đường N, tổ D, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Đều vắng mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 18/12/2024 Đỗ Văn T đi bộ từ nơi ở ra khu vực ngõ B, đường H, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình gặp và mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ 02 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau đó, T cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi T đi bộ đến khu vực ngõ A, đường H, tổ D, phường Q, thành phố T thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố T phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Dương Ngọc H và anh Nguyễn Tiến V, T tự giác đưa từ lòng bàn tay trái của T ra giao nộp cho tổ công tác 02 gói, bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và khai nhận đó là ma túy, loại Heroine của T vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Sau đó tổ công tác yêu cầu T và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường Q, thành phố T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.
Quá trình điều tra, truy tố Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 1871/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật quản lý của Đỗ Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,2322 gam (Không phẩy hai nghìn ba trăm hai mươi hai gam). Heroine STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ.
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn T cũng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Bản cáo trạng số 41/CT-VKSTPTB ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ; đề nghị không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như nội dung Cáo trạng và phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người chứng kiến có trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an phường Q, thành phố T lập ngày 18/12/2024 tại trụ sở Công an phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 03 - 04, 35);
- Kết luận giám định số 1871/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (Bút lục số 38);
- Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 18/12/2024, tại khu vực ngõ A, đường H, tổ D, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Đỗ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 02 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,2322 gam mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Công an phường Q phát hiện, bắt quả tang.
Vì vậy, bị cáo Đỗ Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù động cơ phạm tội xuất phát từ việc nghiện chất ma túy, mục đích để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, nhưng tệ nạn ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tác hại của ma túy song không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy là thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng, vì vậy bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu đã 03 lần bị Tòa án xét xử, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và 04 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, giáo dục bắt buộc, đa phần đều liên quan đến ma tuý, đây là một trong những tình tiết để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo nên được xét hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã phân tích trên thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định trên mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm về ma túy nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ số lượng Heroin nhỏ, mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời, bị cáo còn là người cao tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[7] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Đỗ Văn T khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ tại khu vực ngõ B, đường H, tổ D, phường Q, thành phố T, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh xử lý.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,2322 gam ma túy, loại Heroine quản lý của Đỗ Văn T, sau khi lấy mẫu giám định còn 0.1728 gam và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1871/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T, xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ;
[9] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Đỗ Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 18/12/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định: 0.1728 gam (Không phẩy một nghìn bảy trăm hai mươi tám gam) Heroine và toàn bộ bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1871/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T.
(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản hồi 15 giờ 00 phút ngày 25/02/2025 giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình).
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đỗ Văn T.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Đỗ Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/3/2025)./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
|
Lê Thị P |
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - VKSND thành phố Thái Bình;
- - VKSND tỉnh Thái Bình;
- - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Thái Bình;
- - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
- - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
- - Chi cục THADS thành phố Thái Bình;
- - UBND phường Kỳ Bá, Tp. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- - Lưu HS, VP.
|
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Lê Thị Phượng |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
