Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - BẮC NINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 35/2025/HS - ST
Ngày 04/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Thảo

Ông Vũ Xuân Nghĩa

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Phú – Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Lâm – Kiểm sát viên

Hôm nay ngày 04/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST- HS ngày 12/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q - sinh năm 1999

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị D; Có vợ và 01 con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 31/2023/HSST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành xử phạt Q 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, buộc Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 19/6/2023, Q nộp xong án phí hình sự sơ thẩm. Đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn L - Sinh năm 2003

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường S, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt)

Người làm chứng: - Anh Nguyễn Văn H1 – Sinh năm 1997 (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Văn T – Sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh

- Anh Vũ Mạnh C – Sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Hà Nội

- Anh Nguyễn Trọng A – Sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, Nguyễn Văn Q đang ở chỗ làm may thuộc tổ dân phố C, phường S, tỉnh Bắc Ninh cùng với Nguyễn Văn L thì thấy có thông báo cuộc gọi nhỡ từ tài khoản zalo có tên là “Q” trong điện thoại Iphone 6S Plus lắp sim số 0389.575.216 của Q. Thấy vậy, Q mở ra xem thấy có nhiều cuộc gọi nhỡ từ tài khoản zalo có tên “P” của Nguyễn Cường. Thấy vậy, Q có nhắn tin zalo nói chuyện với Nguyễn C1 là “Anh đang ở phòng em à”. Nguyễn C1 nói “Đang có việc, xong việc thì anh qua chơi”. Đến khoảng 11 giờ 56 phút cùng ngày, Q sử dụng điện thoại điện thoại Iphone 6S Plus lắp sim số 0389.575.216 đến số điện thoại 0963.762.xxx của Nguyễn C1 bảo Nguyễn C1 xong việc thì qua phòng trọ của Q chơi. Khi cả hai đang nói chuyện thì bị mất sóng và bị tắt máy. Sau đó, Q thấy L bảo Q cầm điện thoại Iphone 6S của L lắp sim số 0364.235.585 của L nghe máy nói chuyện với Nguyễn C1. Q cầm điện thoại của L nghe và nói chuyện tiếp với Nguyễn C1 với nội dung Nguyễn C1 hỏi Q khi nào về thì Nguyễn C1 qua chơi. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày. Q gọi điện cho Nguyễn C1 rủ Nguyễn C1 qua phòng trọ của Q chơi nhưng Nguyễn C1 bảo bận việc nếu qua được thì Nguyễn C1 qua. Sau đó, Q rủ L về phòng trọ của Q nghỉ ngơi để buổi chiều cả hai cùng nhau đi làm tiếp. Khi về đến phòng trọ, Q và L thấy Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H1 và Vũ Mạnh C đang ngồi chơi ở phòng trọ của Q. Cùng lúc này, L đưa điện thoại của L cho Q và bảo Q là Nguyễn C1 muốn gặp nói chuyện. Q cầm điện thoại nói chuyện với Nguyễn C1. Nguyễn C1 có bảo Q ra ngoài cổng đầu ngõ phòng trọ gặp Nguyễn Cường. Nghe vậy, Q tắt máy và trả điện thoại lại cho L, rồi một mình đi bộ ra gặp Nguyễn Cường. Khi ra đến nơi, Q thấy Nguyễn C1 đang đứng một mình. Tại đây, Nguyễn C1 đưa cho Q 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén hình tròn màu hồng, bảo Q cầm về phòng của Q, lát nữa Nguyễn C1 và hai bạn của Nguyễn C1 đến sử dụng ma túy (Q hiểu đó là ma túy tổng hợp) nên cầm túi ma túy trên tay phải đi bộ về phòng trọ, còn Nguyễn C1 đi đâu thì Q không biết. Khi về đến phòng trọ, Q lấy chai nhựa màu trắng có nắp chai màu xanh lá cây, trên nắp chai được đục hai lỗ trong đó một lỗ được gắn 01 ống hút nhựa màu đỏ và 01 lỗ được gắn 01 coóng thủy tinh màu trắng, một đầu coóng thủy tinh có gắn 01 ống hút nhựa màu tím (là dụng cụ sử dụng ma túy Q tự chế tạo từ trước) ở dưới gầm giường ngủ trong phòng của Q ra và lấy túi ma túy mà Nguyễn C1 vừa đưa cho Q ra đổ ma túy vào trong coóng để sử dụng ma túy. Sau khi Q đổ ma túy xong, Q để chai nhựa trên ở góc bên trái (từ phía cửa phòng ra vào) của phòng trọ rồi ngồi cạnh đó. Khoảng 05 phút sau, có Nguyễn Trọng A và Quách Thị Vân A1 (là bạn gái của Trọng A) đến phòng trọ của Q. Q nghĩ đó là hai người bạn của Nguyễn C1 mà trước đó Nguyễn C1 bảo đến phòng trọ của Q để sử dụng ma túy. Vì vậy, Q lấy chai nhựa đã chuẩn bị trước đó để ra nền phòng trọ và bảo cả bọn “chơi đi”, tức Q rủ mọi người trong phòng ngồi xuống nền phòng sử dụng ma túy. Sau đó, Q tiếp tục nói với Vũ Mạnh C “Xuống dưới nền phòng làm tý cho tỉnh táo để chiều đi học lái xe”, nói với L “Em ơi nhanh lên để đi làm” và nói với H1 “Anh ơi xuống chơi”, tức rủ C, L và H1 sử dụng ma túy. Nghe vậy, Trọng A, H1, L và C ngồi xuống cùng với Q sử dụng ma túy. Cùng lúc này, T đi từ nhà vệ sinh ra thấy vậy nên cũng ngồi xuống sử dụng cùng. Còn Quách Thị Vân A1 ngồi trên giường nghịch điện thoại, không sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy, Q lấy chiếc bật lửa ga màu đỏ của Q ở trên giường ngủ bật lửa hơ nóng coóng thủy tinh cho ma túy đá và ma túy ngựa trong coóng thủy tinh tan chảy bốc khói. Sau đó, Q hút khói ma túy bằng ống hút nhựa màu đỏ gắn trên nắp chai. Sau khi hút xong, Q tiếp tục dùng bật lửa hơ nóng coóng thủy tinh cho Trọng A, H1, L, T và C mỗi người sử dụng ma túy được hai lần thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Quá trình bắt quả tang, lợi dụng sơ hở Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn L bỏ chạy.

Vật chứng thư giữ:

  • + 01 chai nhựa màu trắng có nắp chai màu xanh lá cây, trên nắp chai được đục hai lỗ trong đó một lỗ được gắn 01 ống hút nhựa màu đỏ và 01 lỗ được gắn 01 coóng thủy tinh màu trắng, bên trong coóng có chứa chất màu đen, một đầu coóng thủy tinh có gắn 01 ống hút nhựa màu tím, được cho vào một túi nilon dán kín (được niêm phong theo quy định).
  • + 01 túi nilon màu trắng viền kẻ màu đỏ, bên trong túi có chứa chất bám dính tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định).
  • + 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng.

Q tự giác giao nộp 01 điện thoại Iphone 6S Plus có số imei 353329070397878, lắp sim số 0389.575.216.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành kiểm tra nước tiểu của Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T, Vũ Mạnh C, Nguyễn Trọng A và Quách Thị Vân A1 kết quả xác định Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn T, Vũ Mạnh C, Nguyễn Trọng A đều dương tính với ma túy Methamphetamine, còn Quách Thị Vân A1 âm tính với ma túy.

Ngày 08/8/2025 và 18/8/2025, lần lượt Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B làm việc theo giấy triệu tập. Nguyễn Văn L đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 6S có số imei 359486088755416, lắp sim số 0364.235.585 để phục vụ điều tra.

Ngày 05/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định trưng cầu giám định số 239 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định 01 chai nhựa màu trắng có nắp chai màu xanh lá cây, trên nắp chai được đục 02 lỗ trong đố 01 lỗ được gắn 01 ống hút nhựa màu đỏ và 01 lỗ được gắp 01 coóng thủy tinh màu trắng, bên trong coóng có chứa chất màu đen, một đầu coóng có gắn 01 ống hút nhựa màu tím được cho vào túi nilon và 01 túi nil on màu trắng viền kẻ màu đỏ bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng đều được niêm phong theo quy định có chứa chất ma túy không? Loại ma tuý? Khối lượng bao nhiêu?

Tại Kết luận giám định số 1703/KLGĐMT ngày 07/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B thông báo kết quả giám định như sau:

  • - Chất màu đen bên trong 01 coóng thủy tinh màu trắng gửi giám định là ma túy; loại ma túy Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
  • - Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ gửi giám định là ma túy, Loại ma túy Methamphetamine, không xác định được khối lượng

Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSKV9 ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh đã truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trữ trái phép chất ma tuý”;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 túi niêm phong ký hiệu PS1A 075244 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong có chứa 01 chai nhựa màu trắng, có nắp chai màu xanh lá cây, trên nắp chai được đục 02 lỗ trong đó có 01 lỗ được gắn với một ống hút bằng nhựa màu đỏ và 01 lỗ được gắn với 01 coóng thủy tinh màu trắng, một đầu coóng có gắn 01 ống hút nhựa màu tím; 01 túi nilon bên trong phong bì thư (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
  • - Trả lại: Bị cáo Nguyễn Văn Q 01 điện thoại Iphone 6S Plus có số imei 35332907397878, lắp sim số 0389575216 và Nguyễn Văn L 01 điện thoại Iphone 6S có số imei 359486088755416, lắp sim số 0364235585. Nhưng tạm giữ chiếc điện thoại của bị cáo Q để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Bị cáo nhất trí với bản luận tội, không tranh luận gì thêm.

Kiểm sát viên không tranh luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại phòng trọ do Nguyễn Văn Q thuê của bà Nguyễn Thị X tại khu phố C, phường S, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Công an phường S phối hợp với phòng PC04 Công an tỉnh B kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn Q đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T, Vũ Mạnh C, Nguyễn Trọng A, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn L. Quá trình sử dụng ma túy: Q là người khởi xướng, rủ T, C, Trọng A, H1 và L sử dụng ma túy tại phòng trọ của Q thuê; cung cấp chất ma tuý và 01 bật lửa gas màu đỏ; là người đổ ma tuý vào coóng thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy mà Q chuẩn bị từ trước) và dùng 01 bật lửa gas màu đỏ đốt nóng Cóong thủy tinh để Q, T, C, Trọng A, H1 và L sử dụng. Vật chứng thu giữ tại phòng trọ gồm toàn bộ công cụ sử dụng ma túy cùng chất màu đen bên trong 01 coóng thủy tinh màu trắng; chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong 01 túi nilon màu trắng, viền kẻ màu đỏ tại nền phòng theo kết luận giám định chất màu đen và chất tinh thể màu trắng nêu trên đều là ma túy, loai ma túy M, không xác định được khối lượng. Như vậy Nguyễn Văn Q đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người, nên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” vi phạm điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể được Bộ luật hình sự bảo vệ đó là chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Chỉ vì muốn thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã có hành vi chuẩn bị ma túy, công cụ, địa điểm của mình và trực tiếp giúp các đối tượng khác cùng với mình sử dụng ma túy. Hành vi đó đã tiếp tay cho những đối tượng sản xuất, mua bán trái phép chất ma túy, gây khó khăn cho việc kiểm soát ma tuý của Nhà nước, đe doạ nghiêm trọng đến trật tự công cộng, sức khoẻ và sự phát triển lành mạnh của giống nòi, cũng như làm ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, làm nảy sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo cũng từng bị xử phạt tù cho hưởng án treo về hành vi đánh bạc, nhưng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giúp cho bị cáo nhận ra lỗi lầm, cải tạo thành người có ích, ngăn chặn những hậu quả xấu của hiểm họa ma tuý, đảm bảo trật tự xã hội.

Xét các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên khi lượng hình cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo phạm tội không có mục đích kiếm lời mà chỉ để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và các đối tượng khác tự nguyện cùng tham gia sử dụng ma túy cùng bị cáo. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong vụ án này, đối với bà Nguyễn Thị X là người cho Nguyễn Văn Q thuê phòng trọ. Tuy nhiên, bà X không biết Q tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét xử lý bà X là phù hợp.

Đối với Nguyễn C1 theo lời khai của Nguyễn Văn Q khai là người đưa ma túy cho Q ngày 05/8/2025 tại đầu ngõ phòng trọ của Q thuê để mang về phòng trọ sử dụng. Tuy nhiên, Nguyễn C1 không thừa nhận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành đối chất giữa Q và Nguyễn C1 nhưng cả hai vẫn giữ nguyên lời khai của bản thân. Mặt khác Q cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh việc C1 đã đưa ma túy cho Q. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không có đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Nguyễn C1 theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn T, Vũ Mạnh C, Nguyễn Trọng A, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của Q ngày 05/8/2025. Quá trình xác minh xác định Nguyễn Văn T, Vũ Mạnh C, Nguyễn Trọng A, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn L không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Đối với việc, Nguyễn C1 nhờ L đưa điện thoại cho Q nghe máy nhưng L không biết nội dung cuộc nói chuyện giữa Nguyễn C1 và Q là gì. Vì vậy, ngày 13/8/2025, 15/8/2025, 25/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC04) đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T, Vũ Mạnh C, Nguyễn Trọng A, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn L về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền, mức phạt mỗi đối tượng là 1.500.000 đồng quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144 ngày 31/12/2021 của Chính Phủ là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 bật lửa gas màu đỏ, 01 túi niêm phong ký hiệu PS1A 075244 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong có chứa 01 chai nhựa màu trắng, có nắp chai màu xanh lá cây, trên nắp chai được đục 02 lỗ trong đó có 01 lỗ được gắn với một ống hút bằng nhựa màu đỏ và 01 lỗ được gắn với 01 coóng thủy tinh màu trắng, một đầu coóng có gắn 01 ống hút nhựa màu tím; 01 túi nilon bên trong phong bì thư (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định). Được xác định là công cụ, phương tiện, đựng ma túy và sử dụng ma túy dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại Iphone 6S Plus có số imei 35332907397878, lắp sim số 0389575216 và 01 điện thoại Iphone 6S có số imei 359486088755416, lắp sim số 0364235585 là điện thoại của Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn L, quá trình điều tra không chứng minh được là dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên trả cho Q và L. Nhưng tạm giữ chiếc điện thoại của bị cáo Q để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 07 năm 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/8/2025.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa gas màu đỏ; 01 túi niêm phong ký hiệu PS1A 075244 của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong có chứa 01 chai nhựa màu trắng, có nắp chai màu xanh lá cây, trên nắp chai được đục 02 lỗ trong đó có 01 lỗ được gắn với một ống hút bằng nhựa màu đỏ và 01 lỗ được gắn với 01 coóng thủy tinh màu trắng, một đầu coóng có gắn 01 ống hút nhựa màu tím; 01 túi nilon bên trong phong bì thư (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).
  • - Trả lại: Bị cáo Nguyễn Văn Q 01 điện thoại Iphone 6S Plus có số imei 35332907397878, lắp sim số 0389575216 và Nguyễn Văn L 01 điện thoại Iphone 6S có số imei 359486088755416, lắp sim số 0364235585. Nhưng tạm giữ chiếc điện thoại của bị cáo Q để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tổng đạt bản án (hoặc niêm yết bản án)

Nơi nhận;

  • - Toà án tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 9 - Bắc Ninh;
  • - THADS khu vực 9 – Bắc Ninh (khi án có hiệu lực);
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam số 1 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Văn phòng;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS - ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 35/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Quang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger