|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 35/2025/HS - ST Ngày: 01-4-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:+ Ông Hoàng Sỹ Lĩnh
+ Ông K'Dung
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Lịch - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/HSST-QĐ ngày 11/3/2025 đối với bị cáo:
Vũ Văn S, sinh năm 1993, tại: Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện tại: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K và bà Mưu Thị N (đã chết); tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại phân trại L thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt;
- Bị hại: Anh Phạm Quang H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Đỗ Xuân K1, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
+ Ông Lý A B, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
+ Anh Vũ Văn T, sinh năm 1995. Nơi thường trú: Thôn T, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 4 năm 2024, Vũ Văn S cùng em trai là Vũ Văn T sinh sống cùng gia đình mẹ ruột là bà Mưu Thị N và bố dượng là ông Lý A B tại thôn P, xã T, huyện L. Quá trình sinh sống tại xã T, huyện L, hai anh em đi làm thuê thì có quen biết với một người đàn ông tên L, sinh năm: 1992, sống tại xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau đó do mẹ ruột của T và S mất nên hai anh em muốn đi tìm thuê nhà để ở riêng nên vào ngày 15/10/2024, T, S và L rủ nhau đi tìm nhà nguyên căn để cùng nhau thuê ở. S mượn xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 49D1-283.16 của ông Lý A B chở theo L ngồi phía sau, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ mượn của bạn tên “M” nhà ở xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Do S biết được có một căn nhà tại thôn T, xã T, huyện L cho thuê nên S chỉ đường cho T và L cùng đi đến để hỏi thuê nhà. Khi đi đến trước căn nhà mà S chỉ, đây là nhà của ông Phạm Quang H thì cả nhóm chạy xe vào sân nhà ông H, sau đó cả ba đi bộ về phía bên hông nhà ông H để gọi tìm chủ nhà nhưng không thấy ai trả lời. S đã tiến đến vị trí cửa chính, do cửa chính không khóa nên S đã mở cửa chính đi vào. Thấy S mở cửa vào nhà, T đứng ngoài sân nói “anh bị điên à” thì S quay lại nói với T “mày cứ ở đó đi”. S vào nhà khoảng 03 phút thì L cũng đi vào nhà, thấy vậy T nói với L “anh vào nhà người ta, chủ nhà tới bây giờ thì sao” thì L không nói gì và đi vào trong nhà, T ngồi ngoài xe ở sân. Khi vào trong nhà S thấy 01 máy bơm nước được nối 2 đầu bơm là các ống nước nhựa để tại gian phòng bếp nên S đã nảy sinh ý định trộm máy bơm. S thấy gần đó có một ống sắt có chiều dài 20cm x 5cm để tại phòng kho, S cầm ống sắt lên đập vỡ 2 đầu nối ống nước nhựa gắn vào máy bơm, L vào sau thì thấy S đang tháo máy bơm nước và được S rủ trộm máy bơm nên L đồng ý và đã cùng S tháo máy bơm ra để lấy trộm. Sau khi tháo được máy bơm, L đi ra phòng bên cạnh lấy 01 vỏ bao màu đỏ có sẵn tại nền nhà và mang đến để S bỏ máy bơm vào. Sau đó S và L cùng nhau mang bao tải chứa máy bơm ra ngoài và để lên yên xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 49D1-283.16. T đứng ngoài sân thấy S và L cùng xách bao ra thì T hỏi S “cái gì trong bao vậy” thì L nói với T “cứ đi đi”. Sau đó S điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 49D1-283.16 chở theo L ngồi phía sau ôm máy bơm nước đi tìm chỗ bán, T lúc này đi xe máy phía sau chưa biết S và L lấy gì nên T đi xe máy lên hỏi S “cái gì vậy” thì L ngồi sau nói “máy bơm nước” thì T không nói gì. Trên đường đi S và L bàn với nhau tìm tiệm điện cơ để bán máy bơm trên. S điều khiển xe đến tiệm điện cơ “Anh Khoa” thuộc thôn T, xã T và đứng ngoài, L cầm bao tải chứa máy bơm đi vào bán, còn T đỗ xe ở ngoài đường cách vị trí S dừng xe khoảng 2, 3 căn nhà để chờ. Sau đó L bán máy bơm trên cho ông Đỗ Xuân K1, sinh năm: 1983 là chủ cửa hàng với giá 1.000.000 đồng. Sau khi bán máy bơm L đi ra nói với S bán được 1.000.000 đồng, S chở L đi trên đường thì cả hai thống nhất với nhau số tiền 1.000.000 đồng sẽ cho L cầm để mua đồ ăn uống. Đến ngày 26/10/2024, T và S biết được cơ quan Công an đang truy tìm nên đã đến Cơ quan Công an đầu thú.
Vật chứng thu giữ: 01 máy bơm hiệu SuperWin 3HP; 01 ống bằng kim loại hình chữ T, được sơn màu bạc, một cạnh dài 30cm, một cạnh dài 10cm, ống rỗng, đường kính 04cm; 01 cờ lê loại hai đầu, đã hoen rỉ, một đầu có ký hiệu “12”, một đầu có ký hiệu “8”; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen xám, biển kiểm soát 49D1-283.16.
Ngày 28/10/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L có bản kết luận số 74/KLĐG kết luận: 01 máy bơm nước nhãn hiệu Super Win, loại 3 HP, lưu lượng 31 m³/giờ, đã qua sử dụng có tổng giá trị là 2.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 14/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị cáo Vũ Văn S về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Vũ Văn S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Văn S từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu tài sản do bị cáo trộm cắp trả lại cho bị hại là ông H; gia đình bị cáo đã trả ông K1 số tiền ông K1 bỏ ra mua máy bơm. Cả ông K1 và ông H không có yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.
Về án phí đề nghị buộc bị cáo Vũ Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận vào ngày 15/10/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy bơm nước nhãn hiệu Super Win, loại 3 HP của ông Phạm Quang H. Tại kết luận định giá số 74/KLĐG ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L đã kết luận máy bơm nước trên có giá trị 2.500.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo về hành vi bị cáo đã thực hiện phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Vũ Văn S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét thấy, bị cáo Vũ Văn S là người có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng người khác sơ hở, mất cảnh giác để lén lút chiếm đoạt tài sản với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là hành vi trái pháp luật, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi sự việc bị phát hiện đã khắc phục hậu quả, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại và được bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ bị cáo đã ly hôn và mẹ bị cáo hiện đã mất. vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6] Đối với Vũ Văn T, quá trình điều tra xác định T không biết việc S và L đi vào nhà ông Phạm Quang H nhằm mục đích trộm cắp tài sản, khi thấy S và L vào nhà ông H thì T đã ngăn cản. Việc S và L lấy trộm mang đi bán thì T không giúp sức, không được chia tiền nên hành vi của T chưa đủ căn cứ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội “Không tố giác tội phạm”.
[7] Đối với người có tên L là người cùng Vũ Văn S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, theo S khai báo thì Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã tiến hành xác minh, rà soát người có tên Nguyễn Văn L, sinh năm: 1992, nơi đăng ký HKTT: thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng và đã ra Quyết định truy tìm người số: 2675/QĐ-ĐTTH ngày 21/11/2024 đối với Nguyễn Văn L. Tuy nhiên, đến nay chưa xác định được Nguyễn Văn L đang ở đâu nên chưa đủ căn cứ để khởi tố đối với người tên L. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý theo quy định.
[8] Đối với ông Đỗ Xuân K1 là chủ cửa hàng Đ, quá trình điều tra xác định khi L mang máy bơm vào bán thì ông K1 không biết máy bơm trên do L trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý ông K1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp là 01 máy bơm nước nhãn hiệu Super Win, loại 3 HP của ông Phạm Quang H đã được thu hồi trả cho ông H. Tại phiên tòa hôm nay ông H vắng mặt nhưng torng hồ sơ thể hiện ông H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Đỗ Xuân K1 là người mua máy bơm do bị cáo trộm cắp với số tiền 1.000.000đồng, như đã nêu ở trên khi mua ông K1 không biết đây là tài sản trộm cắp. Tại phiên tòa ông K1 vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện gia đình bị cáo đã trả lại cho ông K1 1.000.000đồng, ông K1 không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: vật chứng là tài sản bị cáo trộm cắp là 01 máy bơm hiệu SuperWin 3HP; 01 ống bằng kim loại hình chữ T, được sơn màu bạc, một cạnh dài 30cm, một cạnh dài 10cm, ống rỗng, đường kính 04cm; 01 cờ lê loại hai đầu, đã hoen rỉ, một đầu có ký hiệu “12”, một đầu có ký hiệu “8” đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại là ông Phạm Quang H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc xe máy biển số 49D1-283.16, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen xám mà bị cáo Vũ Văn S sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản là xe của ông Lý A B (bố dượng của bị cáo S). Ông B xác định cho bị cáo mượn chiếc xe trên từ tháng 5/2024 để bị cáo làm phương tiện đi lại, khi bị cáo S sử dụng xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội ông B không biết. Ngày 31/10/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện L trả chiếc xe trên cho ông Lý A B, ông B không có yêu vầu gì nên không xem xét.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Vũ Văn S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/10/2024.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Văn S phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/4/2025), riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Quỳnh |
||
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Quỳnh |
Bản án số 35/2025/HS - ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 35/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Sơn phạm tội trộm cắp tài sản
