Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 35/2025/HS-PT

Ngày: 27 -3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Công Hoàn
Các Thẩm phán:Ông Hoàng Rung K' Nhơn
Ông Dư Thành Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2025/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Hồ Văn H do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 214/2024/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Hồ Văn H, sinh năm: 1994 tại: Lâm Đồng; nơi đăn ký thường trú và nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn S, sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1963; vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có bị hại; người liên quan nhưng không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị; không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2022, các hộ dân gồm: Ma Chiêm, Y, Ya T, Y, Ya K, Ya H2 cùng trú tại xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng có nhu cầu làm trích lục thửa đất để làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất tại khu vực xã T, huyện Đ (Gần đập thủy điện Đ1). Thông qua bà Ma H3, trú tại thôn B, xã T, huyện Đ giới thiệu cho các hộ dân trên gặp Trần Nhật M để nhờ làm trích lục thửa đất. M gọi điện thoại cho Hồ Văn H là nhân viên Công ty TNHH D1 - Chi nhánh 3 đến nhà vợ chồng bà Ma H3, ông K1 để nhận làm trích lục đất đai vì trước đó H có nói với M là làm được trích lục, nếu ai có nhu cầu thì giới thiệu cho H. Sau khi nghe M nói, H thuê Trần Tuấn V là người làm dịch vụ cho thuê xe chở H đến nhà vợ chồng bà Ma H3. Tại nhà bà Ma H3, H được ông K1 dẫn H đi xem đất của 06 hộ dân gồm: Ma Chiêm, Y, Y, Y, Y, Ya S1 tại khu vực gần đập thủy điện Đ1. Sau khi xem đất xong, H quay về nhà bà Ma H3 nói với 06 hộ dân là Ma C, Y, Y, Ya D, Ya K, Ya S1 là đất này làm được trích lục họa đồ thửa đất với giá tiền 24.000.000 đồng/hộ, thời gian từ 01 tuần đến 10 ngày là có trích lục nên các hộ dân đồng ý. H yêu cầu mỗi hộ đặt cọc trước 50% với số tiền là 12.000.000 đồng/01 hộ, với tổng số tền đặt cọc là 72.000.000 đồng. H lấy hợp đồng dịch vụ cho Minh điền thông tin vào các bản hợp đồng dịch vụ và nhận số tiền cọc 72.000.000 đồng. H gọi điện thoại cho Nguyễn Sỹ H4 - chuyên làm dịch vụ đo đạc đất ở thành phố Đ để hỏi giá đo đạc của 06 thửa đất thì hai bên thỏa thuận giá đo đạc là 10.000.000 đồng.

Sáng ngày 19-3-2022, H gặp H4 và Nguyễn Sỹ T1 là người làm cùng H4 ở xã T và dẫn H4 đến nhà bà Ma H3 để gặp 06 hộ dân gồm: Ma Chiêm, Y, Y, Y, Ya K, Ya S1 dẫn đi đến vị trí đất. Lúc này, H4 trực tiếp cầm máy đo đất theo chỉ dẫn ranh giới của 06 hộ dân, H đứng xem, M và Vũ ngồi chờ ở nhà bà Ma H3. Sau khi đo đạc xong, H chuyển khoản cho T1 số tiền là 10.000.000 đồng và H4 thông báo khoảng 03 ngày sau có kết quả đo đạc rồi H4 đi về. H quay lại nhà bà Ma H3 thông báo cho các hộ dân là 03-04 ngày sau có kết quả.

Ngày 20-3-2022, H4 và T1 đã gửi file kết quả đo đạc qua tin nhắn mạng xã hội Zalo cho H, H xem qua thì thấy nội dung tiêu đề ghi là họa đồ thực tế, tuy nhiên yêu cầu của các hộ dân là làm trích lục họa đồ thửa đất nên H yêu cầu T1 sửa lại tiêu đề từ “Họa đồ thực tế” thành “Họa đồ trích lục”. T1 sửa lại theo yêu cầu của H, T1 cũng không hỏi H sửa họa đồ để làm gì, H ra tiệm photocoppy in các tờ họa đồ trích lục đất của 06 hộ Ma Chiêm, Y, Y, Y, Ya K, Ya H2; thời điểm in ra thì tại các vị trí người thực hiện, người kiểm tra, phần ký xác nhận, ngày, tháng, năm đang để trống. H đóng dấu tên Hồ Văn H vào phần người thực hiện, ký và đóng dấu tròn Công ty TNHH D1 - Chi nhánh 3. Sau khi hoàn chỉnh 06 tờ trích lục, H, M, V đến nhà bà Ma H3 để giao trích lục cho 06 hộ dân. Tại nhà bà Ma H3, M lấy 06 tờ trích lục đưa cho 06 hộ dân thì có ông Ya T thắc mắc là tờ trích lục nó khác, không giống ở xã cấp thì H giả vờ lấy lý do là giờ bản trích lục họa đồ nó như thế này, các hộ cứ sử dụng để làm sổ đất, nếu không làm được thì sẽ trả lại tiền. Sau khi nhận tờ trích lục, các hộ dân đưa số tiền còn lại cho H theo thỏa thuận trước đó. Nhận tiền xong, H đưa cho M

và V mỗi người 20.600.000 đồng tiền môi giới cho H làm trích lục thửa đất. Bản thân M và V không biết được các tờ trích lục họa đồ mà H đưa cho M giao cho các hộ dân là do H làm giả để tạo lòng tin với các hộ dân nhằm mục đích để H chiếm đoạt số tiền trên của các hộ dân.

Khoảng tháng 5-2022, M gọi điện thoại cho H hỏi trích lục đưa cho các hộ dân bị làm sao mà các hộ dân gọi điện cho M đòi lại tiền. Lúc này, H biết các hộ dân đã phát hiện ra các tờ trích lục họa đồ là giả nên H nói với M và V đưa lại số tiền H đưa cho M và V trước đó để trả lại cho các hộ dân nhưng M và V không trả vì M và V cho rằng số tiền H đưa cho M và V là tiền công môi giới. Tổng số tiền mà Hồ Văn H chiếm đoạt của các hộ dân trên là 144.000.000 đồng.

Tiếp tục mở rộng điều tra, H khai nhận: cùng thời điểm làm trích lục họa đồ cho 06 hộ dân nêu trên, vào khoảng tháng 3-2022, H, M và V còn nhận làm trích lục thửa đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai của các hộ: bà Ma H3, Ya H5 và Ya Đ (Ya Hoàng đứng tên thay) với tổng số tiền là 72.000.000 đồng, mỗi hộ là 24.000.000 đồng. Việc làm trích lục đất của các hộ dân trên thì H thực hiện giống như làm cho các hộ Ma Chiêm, Ya T, Y, Y, Y, Ya S1. Sau khi các hộ dân phát hiện trích lục họa đồ là giả nên H, M và V đã trả lại tổng số tiền 72.000.000 đồng cho các hộ Ma Hang, Ya H5 và Ya H6. Bản thân M và V không biết được các tờ trích lục họa đồ mà H đưa cho M giao cho các hộ dân là do H làm giả để tạo lòng tin với các hộ dân nhằm mục đích để H chiếm đoạt số tiền trên của các hộ dân.

Quá trình điều tra, Hồ Văn H thừa nhận không có thẩm quyền ký vào tờ trích lục bản đồ địa chính và không liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm trích lục đất cho các hộ dân, mà bị cáo trực tiếp ký tên và đóng dấu Công ty TNHH D1 - Chi nhánh 3 vào tờ trích lục để đưa cho các hộ dân. Mục đích để chiếm đoạt các hộ dân là người đồng bào, ít hiểu biết pháp luật. Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo Hồ Văn H đã chiếm đoạt trong vụ án này là 216.000.000đồng. (BL: 88 – 121, 122 – 176, 179 - 195).

Vật chứng của vụ án: 06 (Sáu) tờ họa đồ trích lục đất của các hộ dân: Ma Chiêm, Ya T, Y, Ya S1, KNàng và Ya H6. Cơ quan điều tra chuyển kèm trong hồ sơ vụ án.

Vể trách nhiệm dân sự: Các ông, bà Ma C, Ya S1, Ya T, Ya D, Ya K, Ya H2, Ma H3, Ya H5 và Ya H6 là bị hại trong vụ án đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm về mặt dân sự. (BL: 85 – 87).

Bản Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã truy tố bị cáo Hồ Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Ngày 08-5-2024, Toà án nhân dân huyện Đức Trọng ra Quyết định yêu cầu điều tra bổ sung: Yêu cầu làm rõ Trần Nhật M, Trần Tuấn V có vai trò đồng phạm

trong vụ án hay không; làm rõ các chứng cứ cụ thể liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Ngày 05-8-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng đã ra quyết định trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để điều tra bổ sung. Sau khi nhận hồ sơ, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra bổ sung các nội dung theo Quyết định trả hồ sơ. Kết quả điều tra xác định: Căn cứ vào kết quả điều tra và tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ nhận thấy ngoài lời khai của bị cáo H về việc Trần Nhật M và Trần Tuấn V giới thiệu và đi cùng bị cáo H đến nhà các hộ dân để nhận làm họa đồ trích lục; có tham gia nhận tiền sau khi bị cáo H đưa các tờ họa đồ trích lục cho các hộ dân thì không còn tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh vai trò đồng phạm của Trần Nhật M và Trần Tuấn V trong vụ án. Đồng thời quá trình làm giả các tờ họa đồ trích lục do một mình bị cáo H tự thuê người đo đạc và lập họa đồ, sau đó bị cáo H tự đi in ra, tự ký tên và đóng dấu của Công ty TNHH D1 - Chi nhánh 3; quá trình làm giả thì không có sự tham gia của M và V, bản thân M và V không nhận thức được các tờ họa đồ trích lục do H làm và đưa cho các hộ dân là giả; việc bị cáo H chia số tiền đã nhận của các hộ dân cho M và V là tiền công môi giới (Giới thiệu). Vì vậy, không có cơ sở xem xét xử lý hình sự đối với Trần Nhật M và Trần Tuấn V; mâu thuẫn giữa lời khai của bị cáo Hồ Văn H và những người có liên quan đến vụ án đã tiến hành đối chất trong quá trình điều tra vụ án hình sự.

Đối với chứng cứ phạm tội của bị cáo H, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ đã thu thập được 06 (Sáu) tờ họa đồ trích lục do bị cáo H làm giả nhằm chiếm đoạt tiền của các hộ dân gồm: Ma Chiêm, Y, Y, Ya D, K' Nàng, Ya H6 với tổng số tiền 144.000.000 đồng. Riêng đối với 03 (Ba) hộ gồm Ya Khiên, Ya H2 và Y, quá trình điều tra không thu thập được các tờ họa đồ trích lục do bị cáo H làm giả. Tuy nhiên, bị cáo H đã thừa nhận có làm giả họa đồ trích lục cho 03 (Ba) hộ dân để chiếm đoạt số tiền là 72.000.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo H phù hợp với tài liệu, chứng cứ và lời khai của những người liên quan đến vụ án. Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo H đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 09 (Chín) hộ dân thông qua việc làm giả các tờ họa đồ trích lục là 216.000.000 đồng. Đối với hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì bị cáo H đã khắc phục toàn bộ số tiền 216.000.000 đồng cho các hộ dân.

Đối với file âm thanh (Đã chép sang đĩa DVD) do bị cáo Hồ Văn H cung cấp, thể hiện cuộc hội thoại giữa bị cáo H và người liên quan là ông Trần Nhật M. Ngày 20-8-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định trưng cầu giám định số 43/QĐ-ĐCSKTMT đến Phân viện khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành Phố Hồ Chí Minh để chuyển nội dung hội thoại trong file âm thanh mẫu trong đĩa DVD cần giám định thành văn bản. Ngày 30-8-2024, Phân viện khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành Phố Hồ Chí Minh có kết luận giám định số 5240/KL-KTHS thể hiện giọng nói của nam1 và nam2 trao đổi với nhau việc trả tiền cho Ya B, không liên quan đến quá

trình phạm tội của bị cáo H và các đối tượng liên quan. Ngày 05-9-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự số 155 và đề nghị giữ Bản kết luận điều tra bổ sung vụ án hình sự đề nghị truy tố số 07/KLĐT-ĐCSKT ngày 25-12-2023, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát để truy tố theo thẩm quyền. Sau khi nhận hồ sơ, xét thấy việc điều tra bổ sung không làm thay đổi bản chất nội dung vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên Cáo trạng số 19 ngày 11-01-2024 đã ban hành và chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân huyện Đ để xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng giữ nguyên cáo trạng truy tố.

Bản án Hình sự sơ thẩm số: 214/2024/HS-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 08 (T2) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 08-5-2023 đến ngày 22-6-2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không kháng cáo

Ngày 02-12-2024 bị cáo Hồ Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hồ Văn H giữ nguyên kháng cáo, không thay đổi, bổ sung nội dung gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bị cáo kháng cáo và có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng bổ sung, án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và xử phạt bị cáo mức án phù hợp. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tại giai đoạn sơ thẩm là hợp pháp.
  2. [2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
  3. [3] Về tội danh:

    Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đề cập, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp lời khai người bị hại, liên quan; kết luận định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng tháng 03-2022, qua sự giới thiệu của Trần Nhật M thì Hồ Văn Hưng H gặp và liên hệ với các hộ dân gồm: Ma Chiêm, Y, Y, Y, Ya K, Ya H2, Ma H3, Ya H5 và Ya Đ, đang có nhu cầu làm trích lục họa đồ đất để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Đ. Lợi dụng sự thiếu hiểu biết pháp luật của các hộ dân, sau khi nhờ đo đạc Họa đồ và nhận được file họa đồ đất thực tế của các hộ dân từ Nguyễn Sỹ T1 thì Hồ Văn H đã yêu cầu Nguyễn Sỹ T1 sửa lại tiêu đề từ “Họa đồ thực tế” thành “Họa đồ trích lục”; sau đó bị cáo in các tờ trích lục họa đồ ra và trực tiếp ký tên, đóng dấu Công ty TNHH D1- Chi nhánh 3 vào tờ trích lục, đưa cho các hộ dân để nhằm cho các hộ dân tin tưởng đây là họa đồ trích lục do cơ quan có thẩm quyền thực hiện và trên cơ sở này có thể làm được các thủ tục cấp quyền sử dụng đất, sau đó các hộ dân giao tiền thì bị cáo chiếm đoạt để sử dụng cá nhân. Tổng số tiền chiếm đoạt cơ quan điều tra chứng minh được là là 216.000.000 đồng.

    Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo hộ; bản thân Công ty TNHH D1 - Chi nhánh 3 nơi bị cáo làm việc không có chức năng cấp trích lục họa đồ nhưng bị cáo vẫn lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân, đưa ra các thông tin gian dối, không có thật về khả năng của bản thân để chiếm đoạt của các hộ dân số tiền 216.000.000 đồng như hành vi đã nêu đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do giá trị tài sản bị chiếm đoạt trên 200.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng khung hình phạt và tội danh.

  4. [4] Về hình phạt và kháng cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo hộ mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội; gây bất ổn trong việc thực hiện chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Khi quyết định hình phạt, án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g (Phạm tội 02 lần trở lên), khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là đúng quy định; áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ bao gồm: đã bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt là phù hợp nhưng chưa đầy đủ. Bởi lẽ, sau khi bị 06 hộ dân bao gồm: Ma Chiêm, Y, Y, Y, Ya K, Ya Hậu tố cáo về việc đưa ra thông tin gian

dối để chiếm đoạt số tiền 144.000.000 đồng và bị khởi tố thì bị cáo đã chủ động khai báo còn nhận làm trích lục thửa đất của 03 hộ dân khác gồm: bà bà Ma H3, Ya H5 và Ya Đ (Ya Hoàng đứng tên thay) với tổng số tiền là 72.000.000 đồng, mỗi hộ là 24.000.000 đồng; bị cáo đã nhận tiền nhưng do 03 hộ dân có thắc mắc nên bị cáo đã hoàn trả toàn bộ số tiền đã nhận, từ lời khai này của bị cáo cơ quan điều tra đa xác minh, điều tra làm rõ hành vi này cũng cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản để giải quyết trong cùng vụ án này. Do đó, có căn cứ để áp dụng bổ sung thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t (Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án), khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Chính vì không đánh đánh giá và áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo nên mức án 08 năm tù mà án sơ thẩm đã quyết định với bị cáo có phần nghiêm khắc.

Xét kháng cáo của thì thấy rằng: Tổng số tiền bị chiếm đoạt là 216.000.000 đồng vừa ở mức khởi điểm trị giá tài sản của khung hình phạt bị cáo phạm phải, đến nay đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho các bị hại. Trong đó, trước khi bị tố cáo, khởi tố đã chủ động hoàn trả số tiền 72.000.000 đồng cho bà Ma H3, Ya H5 và Ya Đ (Ya Hoàng đứng tên thay). Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 và có thêm các tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân tốt thể hiện qua nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm; áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình cho bị cáo tại giai đoạn phúc thẩm là phù hợp.

  1. [5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  2. [6] Về các vấn đề khác:

    Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Văn H. Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, giảm mức hình phạt cho bị cáo.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản
  1. Điều 52; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Văn H 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được trừ vào thời gian tạm giam từ ngày 08-5-2023 đến ngày 22-6-2023.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hồ Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Vụ GĐKT I – TANDTC (01);
  • - TAND huyện Đức Trọng (02);
  • - VKSND huyện Đức Trọng (01);
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Văn phòng TAND tỉnh Lâm Đồng (01)
  • - Lưu hồ sơ; Án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-PT ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 35/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger