Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-PT

Ngày 25/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương và ông Hoàng Tuấn Trọng.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thủy Quyên - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 25/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2025/HSPT ngày 30/5/2025 đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Mai Bích D, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 18/4/2025 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn N, sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Đỗ Thị C; có vợ là Mai Bích D và 03 con; tiền án, tiền sự: chưa có; nhân thân: ngày 02/02/2021, bị Công an huyện V xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt).
  2. Mai Bích D, sinh năm 1978; nơi cư trú: thôn H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; giới tính: nữ;quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: kinh doanh; con ông Mai Xuân H và bà Hoàng Thị L; có chồng là Nguyễn Văn N và 03 con; tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo D bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cCấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. (Có mặt).

Ngoài ra còn có 02 bị cáo và 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vợ chồng Nguyễn Văn N và Mai Bích D kinh doanh tự do, bán hàng ở thôn H, thị trấn N. Do thấy việc ghi số lô, số đề đem lại lợi nhuận nên N và D đã tự làm chủ lô đề trực tiếp ăn thua với người mua số lô, số đề bằng hình thức nhận và gửi tin nhắn qua tin nhắn điện thoại, Z hoặc ghi vào giấy thường gọi là “cáp đề”. N, D và người mua số lô, số đề thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh số lô, số đề như sau: trước giờ mở thưởng của Xổ số kiến thiết Miền Bắc hàng ngày vào lúc 18 giờ, người mua lô, đề bỏ tiền ra mua các số trong dãy số tự nhiên từ 00 đến 99; mua các số tự nhiên từ 000 đến 999 khi mua số đề ba càng. Lô xiên hai là hai cặp số tự nhiên hai chữ số, lô xiên ba là ba cặp số tự nhiên hai chữ số, lô xiên bốn là bốn cặp số tự nhiên hai chữ số. Khi mua bán số lô, số đề bằng hình thức nhắn tin qua điện thoại, nhận tin nhắn mua số lô, số đề của người mua, nếu đồng ý bán thì sẽ nhắn tin lại xác nhận tin nhắn đó là “.”. Sau khi N bán các số lô, số đề cho người chơi thì cùng ngày, N đều sử dụng số thuê bao 0973.084.453 gửi tin nhắn cho D qua số thuêbao 0981.704.274 và 0968.508.416 với nội dung để chuyển các số lô, số đề mà N đã bán để D biết và tổng hợp; nếu không đồng ý bán thì sẽ không nhắn tin lại. Hàng ngày, sau khi có kết quả Xổ số kiến thiết Miền B thì người mua số lô, số đề và N, D sẽ đem ra so sánh làm căn cứ xác định được thua. Đối với hình thức đánh đề: nếu số tự nhiên của người mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì N, D phải trả người mua số tiến gấp 70 lần. Hình thức đánh ba càng: Nếu số của người mua trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì N, D phải trả người mua số tiền gấp 400 lần. Hình thức đánh số lô là người mua bỏ tiền ra mua 01 điểm lỗ thì phải trả số tiền 23.000. Nếu số 16 trùng với 02 số cuối của một trong các giải của Xổ số kiến thiết Miền Bắc thì người mua được hưởng 80.000/1điểm 10. Hình thức đánh lô xiên 2, xiên 3, xiên 4: Nếu các cặp số của người mua lô xiên trùng với 2 số cuối của hai giải Xổ số kiến thiết Miền B (xiên 2), trùng với 2 số cuối của ba giải Xổ số kiến thiết Miền B (xiên 3), trùng với 2 số cuối của bốn giải Xổ số kiến thiết Miền B (xiên 4) thì N, D phải trả người mua đã trúng lô xiên 2 số tiền gấp 10 lần, trúng lô xiên 3 số tiền gấp 40 lần, trung là xiên 4 số tiền gấp 80 lần. Nếu người mua số lô, đề không trúng thì N, D được hưởng toàn bộ số tiền của người mua số lô, đề. Việc thanh toán tiền mua bán, thẳng thua số lô, số đề với người chơi thì N và D thống nhất người nào trực tiếp bán số lô, số đề cho người chơi thì người đó là người trực tiếp thanh toán tiền với người chơi đó, hình thức thanh toán bằng tiền mặt.

Hồi 18 giờ 00 ngày 05/7/2024, tại nán bán hàng của N, D, Tổ công tác Công an huyện V kiểm tra, phát hiện N, D có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho người chơi, thu giữ vật chứng là: các cáp ghi số lô, số đề, điện thoại di động sử dụng làm phương tiện nhắn tin để mua, bán số lô, số đề; số tiền 7.845.000đ trong đó có 6.350.000đ của H1 mua số lô, số đề, 1.495.000₫ của bị cáo N; các vật chứng khác có liên quan.

Quá trình điều tra xác định hành đánh bạc giữa N, D với những người chơi cụ thể như sau:

* Hành vi đánh bạc của N, D với Vũ Đình H1:

Khoảng 17 giờ 55 phút ngày 05/7/2024, H1 mua của N và D số đề: 78, 87, 33, 77, 88, 99 x 100.000 đồng = 600.000 đồng; số lô: 78, 87, 88, 25, 52 x 50 điểm = 250 điểm x 23.000 đồng/01 điểm = 5.750.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, H1 không trúng thưởng. Tổng số tiền là 6.350.000 đồng. Hưởng và N đã thanh toán tiền mua bán số lô, số đề ngày 05/7/2024.

* Hành vi đánh bạc của N, D với Nguyễn Duy H2:

- Ngày 16/6/2024, H2 mua số lô: 10 x 50 điểm = 1.150.000 đồng; 17, 71 x 25 điểm= 1.150.000 đồng. Tổng tiền H2 mua số lộ của N: 2.300.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, H2 trúng thưởng số lô 10 =50 điểm, số lô 71 = 25 điểm, được tổng số tiền là 6.000.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc giữa N với H2 ngày 16/6/2024 là: 8.300.000 đồng.

- Ngày 17/6/2024, H2 mua của N số lô tổng 2.300.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, H2 không trúng thưởng.

- Ngày 19/6/2024, H2 mua của N số lô 100 điểm là 2.300.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, H2 không trúng thưởng.

- Ngày 24/6/2024, H2 mua 100 điểm lô của N là 2.300.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, H2 không trúng thường.

N và H2 chưa thanh toán tiền mua bán số lô, số đề của ngày 16, 17, 19, 24/6/2024; N chưa thanh toán số tiền H2 trúng lô ngày 16/6/2024.

* Hành vi đánh bạc của N, D và Nguyễn Văn S:

Ngày 04/7/2024, S mua của N 06 số đề là 100.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, S không trúng thưởng. N và S đã thanh toán hết số tiền mua bán số lô, số đề.

* Hành vi đánh bạc của N, D và Nguyễn Văn T:

- Ngày 23/11/2022, T mua của N 15 điểm lô là 345.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, T trúng thưởng số tiền là 800.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc giữa N với T ngày 23/11/2022 là: 1.145.000 đồng.

- Ngày 24/11/2022, T mua của N 15 điểm lô là 345.000 đồng. So sánh kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, T không trúng thưởng.

N và T đã thanh toán hết số tiền mua bán số lô, số đề của 02 ngày 23, 24/11/2024; đã thanh toán hết số tiền T trúng lô.

Đối với Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T đều chưa có tiền án, tiền sự gì, thực hiện hành vi đánh bạc dưới 5.000.000đnên không cấu thành tội phạm. T thực hiện hành vi đánh bạc ngày 23, 24 tháng 11 năm 2022 nên đã hết thời hiệu xử phạt hành chính. Đối với Nguyễn Văn S, Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, D khai: Sau khi bán số lô, số đề xong, D tổng hợp lại để cùng ngày trực tiếp D là người chuyển bảng số lô, số đề cho Đỗ Hùng C1 (tức Măng) để được hưởng loại hoa hồng, cụ thể: tiền bán số đề thì N, D chỉ phải chuyển 90% tiền khách mua cho C1, 10% còn lại D được hưởng; đối với số tiền bán số lô thì D được hưởng lợi là 500đồng/01 điểm. Nếu người chơi trúng thưởng thì C1 sẽ trực tiếp trả tiền mặt cho D đủ số tiền người chơi trúng thưởng để D trả cho người chơi và đưa tiền cho N để N trả cho người chơi. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Hùng C1 nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan. C1 cũng không thừa nhận việc mua bán số lô, số đề với N, D. Ngoài lời khai của Diệp thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định việc mua bán số lô, số đề của anh C1 nên không có căn cứ xử lý đối với C1.

Quá trình điều tra, các bị cáo N, D, H1 và H2 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu ở trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HSST ngày 18/4/2025, Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Mai Bích D phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 năm tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Mai Bích D.

Xử phạt bị cáo Mai Bích D 09 tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Vũ Đình H1, Nguyễn Duy H2; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/4/2025, các bị cáo Nguyễn Văn N, Mai Bích D kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Văn N, Mai Bích D đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương; trường hợp không được cải tạo tại địa phương thì bị cáo D xin được áp dụng hình phạt tiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, xác định: Toà án

cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Văn N, Mai Bích D về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan; mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với các bị cáo là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đều xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo N, D, giảm hình phạt cho bị cáo N từ 02 đến 03 tháng tù; phạt tiền bị cáo D từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N, Mai Bích D được làm trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về tội danh: Căn cứ lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Từ ngày 23/11/2022 đến ngày 05/7/2024, Mai Bích D, Nguyễn Văn N đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Vũ Đình H1 và Nguyễn Duy H2 với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 21.550.000đ. Trong đó, có 02 ngày đánh bạc với số tiền trên 5.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 05/7/2024, Nguyễn Văn N, Mai Bích D với Vũ Đình H1 đánh bạc với số tiền 6.350.000 đồng; ngày 16/6/2024, Nguyễn Văn N, Mai Bích D với Nguyễn Duy H2 đánh bạc với số tiền 8.300.000 đồng. Ngoài ra, D và N còn bán số lô, số đề trái phép cho Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T với tổng số tiền đánh bạc là 1.590.000 đồng.

Bởi hành vi trên nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn N, Mai Bích D và các đồng phạm khác về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải xét xử các bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; áp dụng đầy đủ, chính xác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xem xét nhân thân của từng bị cáo, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là

có căn cứ.

Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo D có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo N tuy là người có nhân thân xấu (năm 2021 bị xử phạt vi hành chính) nhưng được xóa tiền sự đã lâu. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo tiếp tục thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và ý thức chấp hành bản án sơ thẩm; đều xuất trình các tài liệu thể hiện đã nộp toàn bộ tiền truy thu và án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 7.190.000 đồng; đều có đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về việc chấp hành tốt các quy định tại địa phương, hưởng ứng đóng góp xây dựng, tham gia tích cực các phong trào của địa phương và nhiệt tình giúp đỡ người có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo D có ông nội là Liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục áp dụng thêm cho các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền đánh bạc trong mỗi lần là không lớn, không mang tính chuyên nghiệp, có yếu tố đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn; bị cáo N, D là vợ chồng nếu cùng chấp hành hình phạt tù thì gia đình bị cáo sẽ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc chăm sóc, giáo dục các con chưa thành niên, nuôi dưỡng bố mẹ già. Vì vậy, trên cơ sở phân tích, nhận định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vị trí, vai trò, thái độ khai báo, nhân thân, ý thức chấp hành pháp luật của từng bị cáo, các tình tiết mới tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo N và áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo D để thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.

Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N, Mai Bích D được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn N và Mai Bích D; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HS-ST ngày 18/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Mai Bích D.

Xử phạt bị cáo Mai Bích D 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc".

Ghi nhận: Các bị cáo Nguyễn Văn N và Mai Bích D đã nộp 6.790.000 đồng tiền truy thu và mỗi bị cáo đã nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, tổng là 7.190.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003295 ngày 26/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N và Mai Bích D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND, VKSND huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Văn Lâm;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HC; VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-PT ngày 25/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 35/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn N và Mai Bích D phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger