|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HS-PT Ngày 21-3-2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.
Các Thẩm phán: bà Dương Thuý Hằng; ông Hồ Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Tấn Tài, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Út Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/TLPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn T; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo kháng cáo: Lê Văn T, sinh năm 1987, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 01/12. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;; tôn giáo: không. Con ông Lê Văn H và bà Phan Thị Đ (đã chết); có vợ tên Bùi Thị Thúy S và 02 con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 01/10/2019, bị Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo nộp phạt vào ngày 03/10/2019 (đã hết thời hạn được coi là bị xử lý hành chính).
Bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/01/2023, bị cáo Lê Văn T vay số tiền 700.000.000 đồng của anh Võ Minh T1. Khi vay tiền, bị cáo T có làm hợp đồng uỷ quyền cho anh T1 quản lý, sử dụng thửa đất số 235, tờ bản đồ số 44, diện tích 1.050,1 m² toạ lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C thuộc Khu phố A, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, thời gian ủy quyền là 10 năm, T giao cho T1 giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ).
Ngày 10/01/2023, bị cáo T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (viết tắt: CSĐT) Công an huyện C bắt quả tang về hành vi đánh bạc. Đến ngày 18/01/2023, bị cáo T cùng những người khác bị khởi tố về tội “Đánh bạc”. Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra Lệnh kê biên tài sản số 11/LKB-CSĐT ngày 06/6/2023 đối với tài sản của T để đảm bảo thi hành án. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT tiến hành kê biên tài sản đối với thửa đất số 235, tờ bản đồ số 44, diện tích 1.050,1 m² tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh của T. Biên bản kê biên ghi rõ “...Người được giao bảo quản tài sản bị kê biên mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự...”, biên bản kết thúc có đọc lại cho T nghe và T ký tên là người được giao bảo quản tài sản bị kê biên.
Sau khi QSDĐ bị kê biên, T muốn chuyển nhượng QSDĐ nêu trên để lấy tiền trả cho anh T1. Bị cáo T điện thoại cho anh Đỗ Thái P để chuyển nhượng phần đất nói trên giá 830.000.000 đồng. Sau đó, T gọi điện thoại cho T1 kêu đến Văn phòng công chứng Trần Duy L để ký tên chuyển nhượng thửa đất số 235 nêu trên, T1 đồng ý. T không nói cho P, T1 biết đất chuyển nhượng bị kê biên.
Ngày 12/6/2023, bị cáo T, anh T1, anh P và vợ của P là chị Nguyễn Thị Thùy D đến Văn phòng C để làm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. T1 mang theo GCNQSDĐ mà T giao cho T1 cất giữ khi cho vay tiền. Tại Văn phòng công chứng, T1 là người có văn bản uỷ quyền của T nên ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ cho P và D, P và D trả cho T1 số tiền 830.000.000 đồng, T1 lấy số tiền gốc và lãi là 730.000.000 đồng mà bị cáo T đã vay, T lấy 100.000.000 đồng và sử dụng hết. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T cấp GCNQSDĐ cho anh P và chị D ngày 30/6/2023.
Đến ngày 27/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đưa vụ án Lê Văn T cùng đồng phạm ra xét xử, Bản án hình sự sơ thẩm số 87/2023/HSST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo T 100.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; Lệnh kê biên tài sản của Cơ quan CSĐT Công an huyện C đối với tài sản của bị cáo T tiếp tục có hiệu lực pháp luật cho đến khi T thi hành xong các khoản tiền của Bản án này theo quy định của pháp luật. Bản án không kháng nghị, kháng cáo, án có hiệu lực pháp luật.
Ngày 21/11/2023, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định thi hành án chủ động số 359/QĐ-CCTHADS, thi hành đối với bị cáo T các khoản phải thi hành gồm 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phạt 100.000.000 đồng. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành có Thông báo số 85/TB-CCTHADS ngày 11/12/2023 gửi Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh C1 để thông báo về việc kê biên tài sản của bị cáo T và đề nghị không giải quyết các yêu cầu về chuyển dịch tài sản. Ngày 12/12/2023, bị cáo T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, không nộp số tiền xử phạt 100.000.000 đồng.
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh C1 có Công văn số 4048/VPĐKĐĐ-CNCT ngày 20/12/2023 trả lời không thể thực hiện tạm dừng việc chuyển dịch tài sản của Lê Văn T, do T đã thực hiện chuyển dịch thửa đất số 235 nêu trên cho vợ chồng anh Đỗ Thái P, vào ngày 16/6/2023 (ngày P và D nộp hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh C1).
Nhận thấy hành vi chuyển nhượng tài sản đã bị kê biên của bị cáo Lê Văn T, dẫn đến bị cáo T không thi hành nghĩa vụ thi hành án số tiền 100.000.000 đồng, nên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh có Kiến nghị số 101/CCTHADS ngày 01/4/2024 gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện C đề nghị khởi tố vụ án.
* Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 385; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Vi phạm việc kê biên tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- - Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
- - Ngày 20/01/2025, bị cáo Lê Văn T có đơn kháng cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt.
- - Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:
- - Về tố tụng: xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, phúc thẩm đều được thực hiện đúng với trình tự tố tụng theo luật định, hợp pháp.
- - Về nội dung: Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 năm 06 tháng tù về tội: “Vi phạm việc kê biên” là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.
- * Bị cáo không tranh luận.
- * Lời nói sau cùng: bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về đoàn tụ gia đình, nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn T xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, qua xem xét hồ sơ nhận thấy các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp.
[1.2] Bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Ngày 06/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh kê biên tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 235, tờ bản đồ số 44, diện tích 1.050,1 m² tọa lạc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh của bị cáo T để đảm bảo thi hành án trong vụ án “Đánh bạc”. Đến ngày 12/6/2023, bị cáo T thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho anh Đỗ Thái D1 và chị Nguyễn Thị Thùy D với giá 830.000.000 đồng và lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân, dẫn đến không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 100.000.000 đồng trong vụ án “Đánh bạc” đã được Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử tại Bản án số 87/2023/HS-ST ngày 27/9/2023. Lời khai nhận của bị cáo T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy, bị cáo T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, vi phạm việc kê biên tài sản theo quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm kết luận hành vi của bị cáo phạm tội: “Vi Phạm việc kê biên” theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 385 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động tư pháp nên cần nghiêm trị mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo T, thấy rằng:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả” được quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo là người có nhân thân xấu, nhưng được cấp sơ thẩm quyết định dưới khung hình phạt đối với bị cáo theo Điều 54 của Bộ luật Hình sự là phù hợp, mức án 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo gây ra “ không nặng”. Bị cáo kháng cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ gì mới, nên không được Hội đồng xét xử không chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/QH.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về biện pháp tư pháp: việc bị cáo chuyển nhượng tài sản bị kê biên là vi phạm pháp luật, lẽ ra hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị cáo và anh Đỗ Thái P, chị Nguyễn Thị Thùy D bị vô hiệu theo Điều 123 của Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, số tiền phạt là 100.000.000 đồng và án phí bị cáo đã thi hành án xong, phần đất bị kê biên không còn đảm bảo thi hành nghĩa vụ nào khác đối với bị cáo T. Anh P, chị D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bị cáo T hợp pháp ngay tình phù hợp tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự và được cấp GCNQSDĐ nên không cần phải tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bị cáo T và anh Đỗ Thái P, chị Nguyễn Thị Thùy D.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Văn T.
Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 03/2025/HS-ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 385; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 23 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tâm |
Bản án số 35/2025/HS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về vi phạm việc kê biên tài sản (phúc thẩm hình sự)
- Số bản án: 35/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm việc kê biên tài sản (Phúc thẩm Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Th tội vi phạm việc kê biên
