Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS - PT

Ngày 12 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
  • Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà và Ông Ngô Thế Tương
  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Chương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A và bị cáo Bùi Hoàn T, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số /2025/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Phạm Tuấn A, sinh ngày 27/8/2007 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Phạm Thị Tuyết .

    Tiền án: không;

    Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 240/QĐ-XPVPHC ngày 07/12/2023 của Công an huyện T, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo bằng hình thức cảnh cáo do có hành vi “ Gây rối trật tự công cộng”.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/4/2024, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Tuấn A: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1976 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1977 (Bố, mẹ đẻ bị cáo) - (Có mặt). Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

  1. Bùi Hoàn T, sinh ngày 14/8/2006 tại T, Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: học sinh; trình độ văn hóa: 11/ 12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Lê Thị Q1; Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HSST ngày 26/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/4/2024, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Tuấn A và bị cáo Bùi Hoàn T: Ông Nguyễn Tiến S - Trợ giúp viên Pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Có mặt).

Bị cáo Vũ Trường P, bị hại anh Trần Hoàng N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 10/12/2023, anh Trần Hoàng N cùng em gái là Trần Yến N1, Nguyễn Tuấn Đ, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Tuấn A1, Trần Thế D, Phạm Thị Phương T2, Vũ Văn N2 và Nguyễn Lâm H2 rủ nhau sang huyện T chơi bằng 04 xe máy (nhóm Tiền H3). Anh N2 điều khiển xe máy BKS 17B8-552.82 chở chị N1, Vũ Văn N2 chở T2 và H2, Đ chở H1 còn Tuấn A1 chở D. Khi nhóm của anh Trần Hoàng N đi qua cầu D khoảng 400m thì gặp Phạm Tuấn A chở Vũ Trường P, Giang Quốc T3 chở Phạm Phương N3, Đỗ Tuấn M chở Nguyễn Thành T4 (nhóm T) đi ngược chiều. T3 phát hiện xe máy wave màu trắng của Đ có biển số có kí hiệu “B8” liền hô lên “B8 kìa” thì tất cả nhóm của P (nhóm T7) quay xe lại đuổi theo nhóm của anh Trần Hoàng N mục đích để đánh vì dịp trung thu năm 2023 T3 cùng một số bạn đi đến xã N, T chơi bị đánh nên nhóm của T3 có ý định gặp thanh niên người huyện Tiền H3 sẽ đánh trả thù. Khi phát hiện thấy nhóm của P đuổi theo, Trần Hoàng N cùng các bạn tăng ga đi về phía thị trấn D. Nhóm của P đuổi theo đến ngã tư cây số A thị trấn D bị mất dấu nên không đuổi theo nữa mà đi về khu vực xưởng ớt ở thôn B, xã T, huyện T đứng chờ nhóm của N quay về. Trong lúc chờ nhóm của Trần N, nhóm của P gồm: T3, Phương N3, M, T4 đi nhặt gạch ở vệ đường mục đích dùng để đánh nhóm của Trần N, ngoài ra T4 còn nhặt được một vỏ chai thuỷ tinh trắng trong, có hình trụ tròn, cao khoảng 25cm, đường kính 05cm, ngay lúc đó P bảo T4 đưa chai thủy tinh cho P.

Khoảng 10 phút sau, nhóm của Vũ Văn N2 từ thị trấn D đi về đến khu vực xưởng ớt, Vũ Văn N2 điều khiển xe chở T2, H2 đi đầu, Đ chở H1 và Tuấn A chở D đi đến thì bị T3, Phạm Phương N3, M và T4 lao ra ném gạch vào cả nhóm thì gạch trúng người của Vũ Văn N2 và T2, P định dùng chai thủy tinh ném nhưng thấy ba xe phóng nhanh và đã cách xa nên P không ném nữa mà giữ chai thủy tinh lại. Bị tấn công, Vũ Văn N2, Đ và H1 phóng xe chạy về huyện T. Còn Trần Hoàng N chở N1 đi sau thấy các bạn bị ném gạch nên đã quay xe lại đi về hướng thị trấn D. Thấy vậy nhóm của P lên xe máy đuổi theo và đến đèn xanh, đèn đỏ ở cây số 01 thì bị mất dấu nên nhóm của P không đuổi nữa bảo nhau đi về.

Trên đường đi về, Tuấn A chở P ngồi sau cầm theo chai thủy tinh, còn T3 bảo Phạm Phương N3 và Nguyễn Thành T4 gọi thêm người mục đích cho đông để đi tìm nhóm Tiền H3. Phạm Phương N3 gọi điện cho Bùi Hoàn T, Tạ Đình Anh K. Nguyễn Thành T4 gọi điện cho Phạm Anh T5 và Phạm Ngọc D1. Sau đó nhóm của P đi về khu vực nghĩa trang xã T, huyện T thì lần lượt gặp Tạ Đình A2 Khoa chở Tạ Ngọc Tiến Đ1, Phạm Anh T5 chở Đinh Xuân Đ2, Phạm Ngọc D1 chở Đỗ Tiến D2, Bùi Hoàn T chở Phạm Minh D3, Đỗ Văn Đ3 chở Vũ Tiến T6 (trong số những người đến sau, một số người có mặt là do trên đường đi, người này gặp người kia rồi rủ nhau đi).

Trên đường đi, nhóm của P kể lại cho mọi người về việc đuổi đánh nhóm Tiền H3 làm ba xe bỏ chạy về hướng huyện T còn một xe bỏ chạy về hướng thị trấn D. Nghe vậy, Phạm Ngọc D1 bảo trên đường đi có gặp ba xe máy chạy về hướng huyện T, rồi trong nhóm người này bảo người kia đi theo nhau sang huyện T tìm nhóm Tiền H3. Nhóm của P đi đến đoạn đường trước cây xăng dầu P1 thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T, cách cầu T hướng về thị trấn T khoảng 200m không gặp ai nên quay xe đi về huyện T. Lúc quay lại Tuấn A chở P đi đến gần cầu T, P ngồi sau phát hiện thấy Trần Hoàng N đang chở N1 đi từ trên cầu T xuống, đồng thời khi đó N và N1 cũng nhận ra nhóm của P đi ngược chiều. N sợ bị nhóm của P chặn đánh nên tăng ga phóng xe bỏ chạy. Khi nhìn thấy N, P liền nói với Tuấn A “Nó kìa”, Tuấn A cũng nhận ra Nam nên điều khiển xe máy đi sang phần đường bên trái mục đích chặn xe của Trần Hoàng N lại để đánh làm cho N sợ nên điều khiển xe về bên phải chiều đi của N. Khi hai xe cách nhau khoảng 1,5m P thấy không chặn được liền dùng tay trái cầm chai thủy tinh ném trúng vào vai bên trái của Trần Hoàng N làm cho N điều khiển xe mô tô bỏ chạy trong tình trạng tinh thần sợ hãi và bị choáng. Bùi Hoàn T đang điều khiển xe mô tô chở Phạm Minh D3 đi phía sau cách xe của Tuấn A khoảng 5m đến 07m. Thấy Trần Hoàng N bị Tuấn A và P chặn xe nhưng N đã tránh được, đang tiến về phía mình nên T đã điều khiển xe lao sang trái đường để chặn đầu xe của N, N điều khiển xe tránh về bên phải theo chiều đi của mình để bỏ chạy. Khi N vượt qua xe của T khoảng 10m thì lúc đó có xe ô tô tải biển kiểm soát 17C-012.96 do chị Nguyễn Thị N4 điều khiển hướng đi bên trái sang bên phải theo chiều đi của N và khi đầu xe ô tô đến lề đường bên phải, N điều khiển xe mô tô đâm vào phần đầu và cánh cửa bên phải của xe ô tô tải. Hậu quả Trần Hoàng N bị chấn thương sọ não và gẫy xương đùi trái phải cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Đ4, Bệnh viện đa khoa tỉnh T và Bệnh viện V, tỷ lệ thương tích là 70%. Chị N1 bị thương nhẹ phần mềm ở mặt và xước nhở ở ngón giáp út bàn tay phải tự mua thuốc điều trị tại nhà.

Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 21/KLTTCT-TTPY ngày 19/01/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh T kết luận thương tích của anh Trần Hoàng N: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Trần Hoàng N tại thời điểm giám định là 67%";

Bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 89/ KLTTCT-TTPY ngày 08/3/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Trần Hoàng N tại thời điểm giám định bổ sung là 70%”;

Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đã quyết định:

Căn cứ vào điểm d khoản 4 Điều 134 (tình tiết định khung quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134), điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các Bị cáo Vũ Trường P, Phạm Tuấn A và Bùi Hoàn T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt Bị cáo Vũ Trường P 05 (Năm) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính ngày bị cáo đi chấp hành án.
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 05 (Năm) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
    • - Xử phạt bị cáo Bùi Hoàn T 05 (năm) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo. Ngày 06/12/2024 bị cáo Phạm Tuấn A và bị cáo Bùi Hoàn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm: hai bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nội dung kháng cáo của hai bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A và bị cáo Bùi Hoàn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho hai bị cáo trình bày: nguyên nhân phạm tội của các bị cáo là do bồng bột, thiếu hiểu biết, có một phần lỗi của anh N là khi bị Tuấn A chặn xe nhưng anh N không dừng lại nói chuyện mà bỏ chạy. Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, gia đình các bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của hai bị cáo.

Hai bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Tuấn Ạ không tranh luận bổ sung.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A và bị cáo Bùi Hoàn T làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo Tuấn A và Bùi Hoàn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và được chứng minh bằng các chứng cứ: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 12/12/2023; Biên bản ghi lời khai của bị hại là anh Trần Hoàng N; Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 14/12/2023, nội dung: Tạm giữ 2 USB nhãn hiệu Kingston màu xanh dung lượng 2GB, bên trong có chứa tệp video chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ việc xảy ra ngày 10/12/2023 tại thôn L, xã T, huyện T; tạm giữ 01 USB nhãn hiệu Kingston màu xanh dung lượng 2GB, bên trong có chứa tệp video chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ việc xảy ra ngày 10/12/2023 tại thôn L, xã T, huyện T do bà Bùi Thị C giao nộp; Bản Kết luận giám định số 1834/KL-KTHS kèm theo phụ lục ngày 03/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Bản Kết luận giám định số 292/KL-KTHS kèm theo phụ lục ngày 14/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 21/KLTTCT-TTPY ngày 19/01/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh T; Bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 89/ KLTTCT-TTPY ngày 08/3/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T; Biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/12/2023 tại đường Q thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Phạm Tuấn A ( tính đến ngày phạm tội là 16 tuổi 3 tháng 14 ngày) điểu khiển xe mô tô biển kiểm soát 17B6-645.51 chở phía sau Vũ Trường P (tính đến ngày phạm tội là 17 tuổi 3 ngày), Bùi Hoàn T ( tính đến ngày phạm tội là 17 tuổi 3 tháng 27 ngày) điểu khiển xe mô tô Biển kiểm soát 17B6-647.79 chở Phạm Minh D3 đuổi theo ép, chặn xe mô tô BKS 17B8-552-82 do anh Trần Hoàng N điều khiển chở sau chị Trần Tuyết N5 mục đích đánh anh Trần Hoàng N. P cầm chai thủy tinh ném vào vai của anh N làm anh N hoảng sợ điều khiển xe mô tô bỏ chạy, Bùi Hoàn T chặn xe anh N buộc anh N phải đánh lái về bên phải bỏ chạy nên đã đâm vào xe ô tô tải BKS 17C- 012.96 do chị Nguyễn Thị N4 điều khiển đang chuyển hướng từ bên trái sang bên phải theo chiều đi của Trần Hoàng N. Hậu quả anh N bị chấn thương sọ não và gẫy xương đùi trái tỷ lệ thương tích 70%. Do vậy Tòa án sơ thẩm xử phạt các bị cao về tội “ Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm, mặc dù các bị cáo không biết nhóm của anh Trần Hoàng N có phải là những người đã có mâu thuẫn với nhóm của các bị cáo trong dịp tết trung thu năm 2023 hay không mà chỉ thấy BKS xe mô tô có “ B8” các bị cáo đã dùng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ rượt đuổi theo nhóm anh N. Mặc dù đã hai lần nhóm anh N mất dấu song các bị cáo không từ bỏ ý định gây thương tích cho người khác mà tiếp tục canh coi, chặn đường khi anh N quay về.

[5] Xét kháng cáo của hai bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công từ trước nhưng khi thấy sự xuất hiện của nhóm anh Trần H4, P và Tuấn A đã tiếp nhận ý chí của nhau để lấy hung khí, dùng xe rượt đuổi trong đó bị cáo Tuấn A điều khiển xe, bị cáo P cầm chai thủy tinh ném anh N. Bị cáo Bùi Hoàn T tham gia sau nhưng thực hiện hành vi tích cực, khi thấy anh N bỏ chạy đã điều khiển xe chặn xe anh N. Do đó bị cáo P giữ vai trò thứ nhất, bị cáo Tuấn A và bị cáo T đều giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

[5.1] Về nhân thân: hai bị cáo có nhân thân xấu, ngày 07/12/2023 Tuấn A bị xử phạt vi phạm hành chính do có hành vi gây rối trật tự công cộng; ngày 02/02/2023 bị cáo Bùi Hoàn T có hành vi gây rối trật tự công cộng bị khởi tố đang trong thời gian tại ngoại chờ giải quyết, bị cáo tiếp tục phạm tội. Như vậy trong thời gian rất ngắn hai bị cáo liên tiếp thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, điều đó thể hiện việc coi thường pháp luật của các bị cáo, sự thiếu giáo dục, quản lý của gia đình.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hai bị cáo đều được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là: thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[5.3] Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều là người dưới 18 tuổi nhận thức hạn chế, chưa thấy hết được tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội do mình thực hiện nên Tòa án sơ thẩm áp dụng khoản 6 Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, xét thấy mức hình phạt Tòa án sơ thẩm xử phạt đối với hai bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo và người bào chữa không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt, do vậy áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí: do kháng cáo của hai bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Tuấn A và bị cáo Bùi Hoàn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 111/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
    1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn A và bị cáo Bùi Hoàn T phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
    2. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134 (tình tiết định khung quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 38; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự:
      • - Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
      • - Xử phạt bị cáo Bùi Hoàn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  2. Về án phí phúc thẩm: căn cứ Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Phạm Tuấn A và bị cáo Bùi Hoàn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 ( hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 12 tháng 3 năm 2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THA h. Tiền Hải;
  • - Bị cáo và người đại diện hợp pháp;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thị Minh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS - PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 35/2025/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 35/2025/HS-PT ngày 19/5/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger