|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 35/2025/HS-PT Ngày 09 - 6 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Định
Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Bà Châu Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoàng Kha, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 53/2025/TLPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Kim A, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cáo có kháng cáo: BÙI KIM A, sinh ngày 01/01/1976; tại G, Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); chồng: Nguyễn Trường G (đã ly hôn); con: lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố bị can ngày 23/02/2023 và áp dụng pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (có mặt).
Ngoài ra còn có bị cáo Đoàn Diễm E không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị
- Bị hại:
- Bà Phan Cẩm H1, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Ấp N, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Ấp N, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
- Ông Lưu Văn T2, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Ấp I, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Tuyết H2, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt).
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thanh X, sinh năm 1952. Nơi cư trú: 9 Rạch C, khóm C, phường D, thành phố C. (vắng mặt).
- Ông Phạm Thành C, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Ấp X, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Thị Diễm E là cán bộ Văn phòng thống kê thuộc Ủy ban nhân dân xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, lợi dụng việc người dân đưa các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo Diễm E và phát hiện các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại cơ quan, đồng thời bị cáo Diễm E biết bị cáo Bùi Kim A có các mối quan hệ ngoài xã hội trong việc cầm cố tài sản nên các bị cáo đã nảy sinh ý định đem các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đi cầm cố cho người khác để kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể:
Lần 1: Khoảng tháng 10/2021, bà Lê Thị G1 đưa cho bị cáo Đoàn Diễm E 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Phạm Thành C để nhờ làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ ông Phạm Thành C sang tên Phạm Văn S. Sau đó, bị cáo Diễm E đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Phạm Thành C đứng tên, cầm cho ông T2 và chiếm đoạt của ông T2 số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền xong, bị cáo Diễm E mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng cầm cố, giấy chứng thực hợp đồng cầm cố đưa cho ông Lưu Văn T2 ký tên và đưa các giấy tờ trên cho ông Lưu Văn T2 cất giữ.
Lần hai: Khoảng tháng 11/2021, bị cáo Đoàn Diễm E lấy tại nhà kho của Ủy ban nhân dân xã T một túi sơ mi đựng hồ sơ, bên trong có 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Bùi Tuyết H2 đứng tên; 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Thanh X đứng tên. Sau đó, Diễm E mang 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Bùi Tuyết H2 đưa cho bị cáo Bùi Kim A và kêu mang đi cầm lấy tiền chia nhau chi xài, bị cáo Kim A đồng ý. Bị cáo Kim A đi đến nhà bà Phan Cẩm H1 nói dối người chủ sỡ hữu nhờ cầm dùm 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số tiền 40.000.000 đồng, bà H1 tin tưởng là thật nên đồng ý cầm. Sau đó, bị cáo Kim A nói với bị cáo Diễm E lấy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cầm chỗ khác lãi suất thấp hơn thì bị cáo Diễm E đồng ý. Bị cáo Kim A nói dối với ông Trần Văn T1 là “02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là của người chị bà con nhờ cầm dùm, đảm bảo nếu có ai khiếu nại gì thì Kim A sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm”, ông T1 tin tưởng, đồng ý cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên với số tiền 60.000.000 đồng.
Lần ba: Vào ngày 19/12/2021, bị cáo Đoàn Diễm E tiếp tục đưa cho bị cáo Bùi Kim A 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Tuyết H2 đến nhà bà Phan Cẩm H1 nói dối là người chủ sỡ hữu nhờ cầm với số tiền 20.000.000 đồng, bà H1 đồng ý và đưa tiền cho Kim A.
Lần bốn: Vào ngày 28/12/2021, bị cáo Diễm E tiếp tục đưa cho bị cáo Kim A 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thanh X để mang đến nhà bà Phan Cẩm H1 nói dối là người chủ sỡ hữu nhờ mang đi cầm với số tiền 40.000.000 đồng, bà H1 đồng ý cầm.
Lần năm: Khoảng tháng 12/2021, bị cáo Đoàn Diễm E phát hiện 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Thị Đ đứng tên để trên bàn làm việc của ông Dương Minh L (Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã T) nên lấy cất giữ. Đến ngày 25/12/2021, Diễm E lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đưa cho bị cáo Kim A mang đến nhà bà Phan Cẩm H1 nói dối là người chủ sỡ hữu nhờ cầm với số tiền 20.000.000 đồng, bà H1 tin tưởng cầm.
Lần sáu: Khoảng tháng 12/2021, ông Lê Thành C1 mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Trần Văn N đứng tên chủ sở hữu đưa cho bị cáo Diễm E nhờ làm thủ tục sang tên (đất này ông C1 mua lại của ông N). Đến ngày 23/6/2022, bị cáo Diễm E lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đưa cho bị cáo Kim A mang đến nhà bà Phan Cẩm H1 nói dối cầm dùm người chủ sở hữu với số tiền 15.000.000 đồng, bà H1 tin tưởng đồng ý cầm.
Tổng số tiền bị cáo Diễm E chiếm đoạt là 245.000.000 đồng, tổng số tiền bị cáo Kim A chiếm đoạt là 195.000.000 đồng.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu đã tuyên xử:
- Tuyên bố các bị cáo: Đoàn Diễm E; Bùi Kim A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Kim A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Đoàn Diễm E 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
* Đến ngày 10/4/2025, bị cáo Bùi Kim A nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Bùi Kim A vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;
- Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm cho rằng: Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Bùi Kim A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, không phù hợp với nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Kim A được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Kim A thừa nhận được bị cáo Đoàn Diễm E rủ rê, đưa các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo để đem lại những nơi cầm cố tài sản, dùng thủ đoạn bằng cách đưa ra thông tin gian dối nói chủ sử dụng đất nhờ đem giấy chứng nhận đi cầm, làm cho họ tin tưởng đó là sự thật để nhận cầm cố nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại chia nhau sử dụng, tổng số tiền bị cáo Kim A chiếm đoạt là 195.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Trong vụ án này, bị cáo Diễm E là người có vai trò chính, bị cáo nảy sinh ý định dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đem đi cầm cố để chiếm đoạt tài sản của bị hại, bị cáo đã tự mình thực hiện hành vi đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cầm cố cho ông Lưu Văn T2 để chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng, sau đó khi phát hiện một số Giấy chứng nhận khác tại cơ quan bị cáo mới rủ rê bị cáo Kim A cùng thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Diễm E cao hơn so với bị cáo Kim A.
Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Diễm E dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Tuy nhiên, đối với bị cáo Kim A, mặc dù bị cáo chỉ tham gia với vai trò giúp sức, số lần chiếm đoạt ít hơn so với bị cáo Diễm E, bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại, đồng thời bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn so với bị cáo Diễm E (cha mẹ bị cáo là người có công với cách mạng) nhưng cấp sơ thẩm khi áp dụng hình phạt chỉ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Diễm E dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà không áp dụng cho bị cáo Kim A là chưa đánh giá đầy đủ, toàn diện.
Xét thấy, trong vụ án này bị cáo Kim A tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cha mẹ ruột là ông Bùi Văn P và bà Trần Thị Tiếng L1 người có công với cách mạng, được Nhà nước trao tặng huân chương kháng chiến hạng Nhất và hàng Nhì; bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này thì từ trước đến nay bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, hiện nay bị cáo đang nuôi dưỡng, chăm sóc người chị ruột đã trên 72 tuổi, không có người thân thích khác. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
[3] Về án phí: Bị cáo Bùi Kim A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu là phù hợp nên được chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Kim A.
Sửa quyết định hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Kim A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Bùi Kim A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xử phạt bị cáo Bùi Kim A 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Định |
Bản án số 35/2025/HS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 35/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo 01 năm 09 tháng tù
