Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-PT

Ngày 08 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:Ông Hoàng Văn Sỹ.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Xuân Trọng
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hoàng Hà Phan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 31/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Tạ Tuấn A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo có kháng cáo:

Tạ Tuấn A, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1988 tại phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ E B, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Đình K và bà Nông Thị Bích T; có vợ là Nguyễn Thị Kiều T1 và có 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số 17/2015/HSST ngày 14/7/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang xử phạt Tạ Tuấn A 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tài sản bị chiếm đoạt 55.800.000đồng (Thời điểm thực hiện hành vi lừa đảo tháng 02 và tháng 4 năm 2014). Buộc Tuấn A phải bồi thường cho bà Đào Thị H số tiền 13.000.000đồng; bồi thường cho chị Thượng Thị T2 số tiền 3.000.000đồng; bồi thường cho bà Lê Thị S số tiền 6.600.000đồng; bồi thường cho ông Trương Đức H1 số tiền 6.600.000đồng; bồi thường cho bà Trần Thị Thùy L số tiền 6.600.000đồng. Án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng, án phí dân sự trong vụ án hình sự Tuấn A phải chịu 1.940.000đồng; ngày 22/9/2017, chấp hành xong hình phạt tù; ngày 28/03/2017 chấp hành xong án phí. Đối với số tiền phải bồi thường cho các bị hại, các bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án; Tuấn A cũng chưa bồi thường cho các bị hại. Do vậy, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (ngày 24/03/2023), Tuấn A chưa chấp hành xong bản án nên chưa được xoá án tích.

Nhân thân: Tại Bản án số 18/2006/HSST ngày 06/7/2006 của Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang, tỉnh Hà Giang xử phạt Tạ Tuấn A 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng trị giá tài sản trộm cắp là 42.081.000đồng. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Tuấn A phải bồi thường cho ông Nông Đức T3 2.364.000đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị T4 2.982.500đồng. Án phí hình sự sơ thẩm 50.000đồng; án phí dân sự trong vụ án hình sự, Tuấn A phải chịu 267.325đồng; Đến ngày 27/10/2006, chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Đối với số tiền phải bồi thường cho các bị hại, các bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án, Tuấn A cũng chưa bồi thường cho các bị hại. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản ngày 27/01/2006 Tuấn A chưa đủ 18 tuổi; theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Tuấn A không có án tích. Tại Bản án số 37/2007/HSST ngày 28/11/2007 Tòa án nhân dân thị xã Hà Giang, tỉnh Hà Giang xử phạt Tạ Tuấn A 05 năm tù về tội “Giao cấu với trẻ em”; Án phí hình sự sơ thẩm 50.000đồng. Tại Bản án số 07/2008/HSPT ngày 18/03/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử y án sơ thẩm; ngày 30/8/2010, chấp hành xong hình phạt tù; ngày 18/7/2008 chấp hành xong án phí (Đã được xoá án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2024 đến nay “có mặt”.

Ngoài ra, bản án còn có 01 bị hại, 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Tạ Tuấn A nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái mang đi cầm cố lấy tiền. Qua mạng xã hội Facebook, Tuấn A biết anh Nguyễn Vũ Huy H2, sinh năm 1998, trú tại: Tổ dân phố H, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cho thuê xe ô tô nên Tuấn A liên lạc hỏi thuê xe, anh H2 đồng ý và hẹn đến nhà anh H2 xem xe và làm hợp đồng thuê. Khoảng 10 giờ ngày 24 tháng 3 năm 2023, Tuấn A một mình đi xe taxi (Tuấn A không nhớ là hãng xe nào) đến cửa hàng Gara ô tô của anh H2 tại địa chỉ: Đường N, phường H, thành phố V để thuê xe. Khi đến nơi, Tuấn A thỏa thuận thuê của anh H2 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu VINFAST LUX A 2.0, màu trắng, BKS: 88A - 356.25, thời hạn thuê 10 ngày, Tuấn A nói với anh H2 mục đích thuê xe để làm phương tiện đi lại. Anh H2 và Tuấn A làm hợp đồng thuê xe ô tô tự lái do anh H2 và Tuấn A cùng ký tên xác nhận, bản hợp đồng này anh Hoàng G, Tuấn A để lại 01 Căn cước công dân của Tuấn A và đặt cọc số tiền 30.000.000đồng. Sau khi lập hợp đồng thuê xe, anh H2 giao xe ô tô BKS: 88A - 356.25 cùng Giấy đăng ký xe ô tô (bản photocopy), Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô; Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô cho Tuấn A. Ngay sau khi nhận được xe ô tô, Tuấn A một mình điều khiển xe đến huyện S, thành phố Hà Nội để cầm cố. Trên đường đi, Tuấn A điện thoại cho anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991, trú tại: thôn B, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội, là bạn quen biết ngoài xã hội của Tuấn A hỏi chỗ cầm cố xe thì được anh C cho biết chị Nguyễn Thị L1 (tên thường gọi là T1), sinh năm 1985, trú tại: Thôn P, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội biết chỗ cầm cố xe ô tô, đồng thời anh C cho Tuấn A số điện thoại của chị L1. Sau đó, Tuấn A điện thoại cho chị L1 và được chị L1 hẹn đến nhà sẽ gọi người nhận cầm cố xe cho. Tại nhà chị L1, chị L1 điện thoại cho anh Nguyễn Ngọc S1 đến, Tuấn A nói với anh S1 muốn cầm cố xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, BKS: 88A-356.25 với giá 200.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh S1 không nhận cầm cố xe mà đề nghị Tuấn A bán chiếc xe ô tô này với giá 450.000.000đồng, Tuấn A đồng ý. Sau đó, anh S1 đề nghị chị L1 và Tuấn A lập vi bằng thủ tục mua bán xe cho anh S1, L1 và Tuấn A đồng ý. Anh S1 và Tuấn A thoả thuận mua bán chiếc xe ô tô trên giá 450.000.000 đồng, Tuấn A nói với anh S1 đây là xe của Tuấn A được bố Tuấn A mua cho, đăng ký xe bản gốc hiện bố Tuấn A đang cất giữ, hẹn trong vòng 15 ngày sẽ đưa đăng ký bản gốc cho anh S1. Tin tưởng Tuấn A nên anh S1 chuyển khoản trước 200.000.000 từ số tài khoản 0310105956001 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q2 (M1) của anh S1 đến số tài khoản 42110000502692 tại Ngân hàng N (B) của Tuấn A, ghi rõ nội dung chuyển khoản là “chuyển khoản tiền đặt cọc xe”. Số tiền 250.000.000 đồng sẽ trả nốt khi Tuấn A đưa đăng ký xe bản gốc cho anh S1. Do anh S1 đề nghị việc mua bán xe ô tô phải có hợp đồng đảm bảo nên chị L1 đã thuê Nguyễn Thị H3, sinh năm 1996, trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện S, thành phố Hà Nội là nhân viên của Văn phòng T5 để lập vi bằng việc mua bán xe ô tô giữa anh S1 và Tuấn A. Trước sự chứng kiến của chị L1 và chị H3, anh S1 và Tuấn A lập vi bằng về việc mua bán xe ô tô với nội dung thỏa thuận như trên, 2 bên cùng chụp ảnh, kí xác nhận vi bằng. Tuấn A đưa cho anh S1 toàn bộ số giấy tờ khi thuê xe anh H2 đã giao cho Tuấn A gồm 01 Giấy đăng ký xe (bản photocopy), 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô. Sau khi nhận tiền từ anh S1, Tuấn A chuyển khoản số tiền khoảng 9.000.000 đồng từ tài khoản 42110000502692 tại Ngân hàng B của Tạ Tuấn A đến tài khoản Ngân hàng của chị L1 (Tuấn A không nhớ tài khoản Ngân hàng nào) để chị L1 trả tiền làm vi bằng 3.000.000 đồng, số tiền còn lại Tuấn A cho chị L1 là tiền công giới thiệu. Sau đó, Tuấn A bỏ trốn khỏi địa phương và chi tiêu hết số tiền bán xe ô tô. Khoảng 5 ngày sau, chị L1 đưa cho anh S1 vi bằng hoàn chỉnh. Sau 15 ngày theo như thỏa thuận, anh S1 không nhận được đăng ký xe ô tô bản gốc như Tuấn A hứa hẹn.

Khi quá thời hạn thuê xe, Tuấn A không mang xe về trả cho anh H2, anh H2 nhiều lần liên hệ với Tuấn A nhưng không liên lạc được, Tuấn A đã tắt sim và chặn zalo của anh H2. Ngày 12/4/2023, anh H2 đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố V trình báo sự việc như trên và giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 Hợp đồng thuê xe ô tô tự lái lập ngày 24/03/2023, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, BKS: 88A - 356.25 và 01 Căn cước công dân mang tên Tạ Tuấn A để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 14/4/2023, anh Nguyễn Ngọc S1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, BKS: 88A - 356.25, kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô (bản photo); 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô để phục vụ công tác điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 53/KL - HĐĐG ngày 21/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: “01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, màu sơn trắng, BKS: 88A - 356.25, số máy: 200810033VF20SED, số khung: RPXAB1RSFLV002041. Xe đã cũ, đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu năm 2023, trị giá 460.000.000đ (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng)”.

Ngày 16/6/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Tạ Tuấn A trên hợp đồng thuê xe ô tô tự lái ngày 24/03/2023 (ký hiệu A1), vi bằng số 296 đề ngày 24/03/2023 (ký hiệu A2) với các mẫu so sánh là tờ khai chứng minh thư nhân dân đề các ngày 24/12/2011 và 22/12/2017 (ký hiệu M1, M2); phiếu thu thập thông tin căn cước công dân của Tạ Tuấn A đề ngày 13/10/2022 (ký hiệu M3) có phải do cùng một người viết ra hay không. Tại Kết luận giám định số 2104 ngày 01/8/2023 Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: “Chữ ký dạng viết tên “Anh, chữ viết dòng họ tên “Tạ Tuấn A” dưới mục: “NGƯỜI THUÊ XE” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1), dưới mục: “NGƯỜI THAM GIA LẬP VI BẰNG” và “BÊN BÁN” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ viết dòng họ tên “Tạ Tuấn A” dưới mục: “NGƯỜI KHAI KÝ TÊN” trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) và dưới mục: “Người khai ký, ghi rõ họ tên” trên mẫu so sánh (ký hiệu m3) là do cùng một người viết ra”.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, sao kê số tài khoản 42110000502692 tại Ngân hàng TMCP N, chi nhánh P, xác định chủ tài khoản là Tạ Tuấn A và sao kê số tài khoản 0310105956001 tại Ngân hàng TMCP Q2, chi nhánh Đ, xác định chủ tài khoản là anh Nguyễn Ngọc S1. Kết quả sao kê thể hiện giao dịch chuyển khoản số tiền 200.000.000đồng từ tài khoản của anh S1 đến tài khoản Tuấn A với nội dung “chuyển khoản tiền đặt cọc xe”.

Đối với số tiền 200.000.000đồng Tạ Tuấn A có được sau khi bán xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, màu sơn trắng, BKS: 88A - 356.25 cho anh Nguyễn Ngọc S1, Tuấn A sử dụng và đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0, BKS: 88A - 356.25, quá trình điều tra xác định, chiếc xe ô tô trên là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Nguyễn Vũ Huy H2 và chị Nguyễn Yên Q, sinh năm 1999, HKTT: Tổ dân phố M, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Chiếc xe trên được anh chị mua lại của anh Phùng Văn M, sinh năm 1983, ở Phố L, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 640.000.000đồng bằng số tiền lao động hợp pháp, mục đích làm phương tiện đi lại, sau đó làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Do đăng ký xe đứng tên chị Q nên ngày 12/04/2024, chị Q đã có văn bản ủy quyền cho chồng là anh Nguyễn Vũ Huy H2 giải quyết toàn bộ vụ việc liên quan đến chiếc xe ô tô. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô trên cho anh Nguyễn Vũ Huy H2 cùng các giấy tờ kèm theo của xe. Anh H2 nhận lại tài sản, không có ý kiến đề nghị bồi thường dân sự và tiền thuê xe.

Đối với chiếc điện thoại di động Tạ Tuấn A sử dụng liên lạc thuê xe và đặt vấn đề cầm cố xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, màu sơn trắng, BKS: 88A - 356.25, quá trình điều tra, Tuấn A khai nhận chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XSMAX cũ, đã qua sử dụng do Tuấn A mua tại một cửa hàng mua bán điện thoại di động tại thành phố V (Tuấn A không nhớ tên và địa chỉ cửa hàng) với giá 10.000.000đồng bằng số tiền lao động hợp pháp mà có. Khoảng tháng 5/2024, do hết tiền tiêu nên Tuấn A đã bán chiếc điện thoại này cho một cửa hàng mua bán điện thoại di động tại thành phố Hà Nội (Tuấn A không nhớ tên và địa chỉ cửa hàng) và đã chi tiêu cá nhân hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được điện thoại.

Anh Nguyễn Ngọc S1 được chị Nguyễn Thị L1 gọi đến gặp Tạ Tuấn A; anh S1 và Tuấn A thỏa thuận mua bán chiếc xe ô tô với giá 450.000.000đồng. Việc mua bán có lập hợp đồng mua bán xe ô tô, lập Vi bằng thể hiện việc mua bán xe ô tô. Sau đó, anh S1 có chuyển khoản số tiền 200.000.000đồng đến tài khoản của Tuấn A với nội dung “chuyển khoản tiền đặt cọc xe”, số tiền 250.000.000đồng còn lại anh S1 sẽ trả nốt sau khi Tuấn A giao đăng ký xe cho anh S1. Anh S1 không biết xe ô tô do Tuấn A mang đến bán là do phạm tội mà có, không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Tuấn A nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý anh S1 về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với chị Nguyễn Thị L1, quá trình điều tra, theo Tạ Tuấn A khai nhận: Sau khi thuê được xe ô tô, Tuấn A điều khiển xe đến nhà chị L1 mục đích để chị L1 giới thiệu gặp Nguyễn Ngọc S1 và cầm cố xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, BKS: 88A - 356.25. Sau khi cầm cố được xe ô tô, Tuấn A có chuyển khoản cho chị L1 số tiền khoảng 9.000.000đồng (Tuấn A không nhớ rõ) để trả công việc giới thiệu cầm cố. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập chị Nguyễn Thị L1 nhiều lần, tuy nhiên chị L1 không có mặt tại gia đình và địa phương. Chính quyền địa phương cho biết, hiện không rõ chị L1 đi đâu, làm gì. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an thành phố V tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ hành vi của chị L1 sẽ đề cập xử lý sau.

Đối với người tên Nguyễn Văn C, quá trình điều tra xác định: Anh C là bạn quen biết ngoài xã hội của Tuấn A, anh C nói với Tuấn Anh chị L2 biết chỗ cầm cố xe ô tô, đồng thời cho Tuấn A số điện thoại của chị L2 mục đích để liên hệ cầm cố. Quá trình điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập anh C nhiều lần, tuy nhiên anh C không có mặt tại nơi cư trú. Chính quyền địa phương không rõ anh C hiện đi đâu, làm gì. Do vậy, cơ quan CSĐT Công an thành phố V tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ về hành vi của anh C sẽ đề cập xử lý sau.

Đối với chị Nguyễn Thị H3 là người được chị Nguyễn Thị L1 thuê về làm thủ tục lập vi bằng giao dịch mua bán xe giữa anh Nguyễn Ngọc S1 và Tạ Tuấn A. Quá trình điều tra xác định, chị H3 là nhân viên văn phòng tư vấn bất động sản có địa chỉ tại xã M, huyện S, thành phố Hà Nội do chị Phù Thị Q1, sinh năm 1980, trú tại xã M, huyện S, thành phố Hà Nội quản lý. Ngày 24/03/2023, chị L1 gọi chị H3 đến nhà chị L1 tiếp nhận hồ sơ lập vi bằng, lấy chữ ký của người lập vi bằng và người tham gia (anh S1 và Tuấn A), sau đó chuyển hồ sơ cho chị Q1, chị Q1 sẽ chuyển toàn bộ hồ sơ về văn phòng T5 để hoàn tất nốt thủ tục. Quá trình lập vi bằng, chị H3 không biết nguồn gốc xe ô tô này là do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị H3.

Đối với Văn phòng T5 do anh Nguyễn Xuân A1, sinh năm 1976, địa chỉ: Phường X, quận B, thành phố Hà Nội là Trưởng Văn phòng thừa phát lại, quá trình điều tra xác định, ngày 24/03/2023, Văn phòng T5 lập vi bằng về việc mua bán xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, BKS: 88A - 356.25 giữa bên bán là Tạ Tuấn A và bên mua là Nguyễn Ngọc S1. Tuy nhiên, người soạn thảo vi bằng, chứng kiến ghi nhận các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của người đề nghị lập vi bằng là cộng tác viên (Nguyễn Thị H3) của nhân viên tại Văn phòng. Văn phòng T5 chỉ nắm được nội dung giao dịch mua bán xe trên, ngoài ra không biết nguồn gốc chiếc xe, đồng thời không biết nguồn gốc xe ô tô này là do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Ngọc S1 yêu cầu Tạ Tuấn A phải bồi thường cho anh S1 số tiền 200.000.000đồng.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2025/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Tạ Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Tuấn A 12 (Mười hai) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 6 năm 2024.

Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Tạ Tuấn A phải có trách nhiệm thanh toán trả cho anh Nguyễn Ngọc S1 số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25 tháng 01 năm 2025 bị cáo Tạ Tuấn A có đơn kháng cáo với nội dung Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo thừa nhận Toà án cấp sơ thẩm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mong Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Tuấn A, đề nghị sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt bị cáo từ 10 (mười) đến 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 6 năm 2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Bị cáo Tạ Tuấn A có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. Nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Tạ Tuấn A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản thu giữ vật chứng; kết luận giám định của cơ quan chuyên môn và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Do không có tiền để chi tiêu cho bản thân Tạ Tuấn A nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái mang đi cầm cố lấy tiền. Qua mạng xã hội Facebook, Tuấn A biết anh Nguyễn Vũ Huy H2 cho thuê xe ô tô nên Tuấn A liên lạc hỏi thuê xe, anh H2 đồng ý và hẹn đến nhà anh H2 xem xe và làm hợp đồng thuê. Ngày 24/3/2023 tại phường H, thành phố V, Tạ Tuấn A đã dùng thủ đoạn gian dối thông qua việc ký hợp đồng thuê xe ô tô tự lái để thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A 2.0, màu sơn trắng, BKS: 88A - 356.25 của anh Nguyễn Vũ Huy H2, ngay sau khi được anh H2 giao chiếc xe ô tô trên, Tuấn A đã đem xe ô tô đi bán cho anh Nguyễn Ngọc S1 với giá 450.000.000 đồng, nhận trả trước 200.000.000đồng và tiêu xài cá nhân hết số tiền 200.000.000đồng. Trị giá tài sản Tuấn A đã chiếm đoạt của anh H2 theo kết luận định giá là 460.000.000₫ (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng).
    Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.
  4. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
    Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có nhân thân xấu; có 01 tiền án (Bản án số 17/2015/HSST ngày 14/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang), do đó phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
    Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
    Để bị cáo có cơ hội cải tạo tốt, sửa chữa lỗi lầm cần xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa là phù hợp. Vì vậy, cần sửa án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo xuống 10 (mười) năm tù cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
  5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
  6. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  7. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Tạ Tuấn A, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2025/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
    Tuyên bố bị cáo Tạ Tuấn A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Tuấn A 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 6 năm 2024.
  2. Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    Buộc bị cáo Tạ Tuấn A phải có trách nhiệm thanh toán trả cho anh Nguyễn Ngọc S1 số tiền 200.000.000đồng (Hai trăm triệu).
    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật anh Nguyễn Ngọc S1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo không thanh toán trả khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Tạ Tuấn A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000đ (Mười triệu đồng) án phí dân sự trong án hình sự. Bị cáo Tạ Tuấn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND thành phố Vĩnh Yên;
  • - VKSND thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Vĩnh Yên;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu hồ sơ; Toà hình sự, HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-PT ngày 08/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 35/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Tuấn Anh phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger