TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HNST
Ngày: 02/6/2025
Về việc: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Ông Phạm Văn Vĩ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nhậm Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 02/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử công khai vụ án thụ lý số: 45/2025/TLST/HN ngày 13 tháng 03 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2025/QĐST-HN ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980. (SĐT: 0888.836.xxx) Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1987. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị L thông qua sự tự tìm hiểu một thời gian dài được sự chấp thuận của hai bên gia đình có tổ chức đám cưới và tự nguyện tiến đến đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang vào ngày 15/11/2005. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng gặp khó khăn về kinh tế dẫn đến vợ chồng bất hòa, bất đồng quan điểm sống, cách nhìn nhận về cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn xảy ra kéo dài. Cuộc sống vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau, ông đã trao đổi bàn bạc nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa. Cả hai đã ly thân từ tháng 5/2016 cho đến nay. Nay mục đích hôn nhân không còn đạt được, không còn tình cảm vợ chồng nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Phía bị đơn bà Nguyễn Thị L:
Bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình và vắng mặt không rõ lý do.
Do phía bị đơn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hòa giải được mà phải đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã triệu tập hợp lệ do đó Hội đồng xét xử công bố lời khai của các đương sự và tiến hành xét xử theo quy định của của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị L tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Khi phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết và quan hệ này được Luật hôn nhân gia đình điều chỉnh, tranh chấp giữa các đương sự thuộc quan hệ “Tranh chấp ly hôn”. Mặt khác, bị đơn bà Nguyễn Thị L có địa chỉ cư trú tại quận C, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cái Răng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về phần thủ tục:
Ông Nguyễn Thanh T đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận. Bà Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để tham dự phiên hòa giải, phiên tòa xét xử. Tòa án đã làm thủ tục niêm yết thông báo thụ lý, thông báo phiên họp và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà L theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là có cơ sở.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Thị L tự nguyện tiến tới hôn nhân, chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Theo ông T, mâu thuẫn chủ yếu là do kinh tế vợ chồng gặp nhiều khó khăn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, cuộc sống vợ chồng không có sự chia sẻ và thời gian kéo dài. Bên cạnh đó, cả hai đã ly thân một thời gian dài từ tháng 5/2016 cho đến nay nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cả hai không có sự quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống. Mặc dù, ông đã tạo điều kiện cho bà L nhiều cơ hội để hàn gắn nhưng không mang lại kết quả, nay thấy tình cảm không còn nên có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án mời bà L nhiều lần cũng tạo cơ hội để hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng, cho thời gian để vợ chồng có điều kiện đoàn tụ nhưng bà L không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không đến dự phiên hòa giải, tham dự phiên tòa, chứng tỏ bà L cũng không tha thiết tha gì đối với quan hệ hôn nhân này. Nhận thấy, hôn nhân của vợ chồng ông T, bà L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông T có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung: Ông T trình bày vợ chồng trong quá trình chung sống vợ chồng không có con chung.
[5] Về tài sản chung: Ông T trình bày vợ chồng không có tài sản chung còn bà L vắng mặt nên chưa ghi nhận được ý kiến của bà L nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có tranh chấp thì giải quyết thành vụ kiện khác.
[6] Về nợ chung: Không có.
[7] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí Hôn nhân và Gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 149, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu giải quyết ly hôn của ông Nguyễn Thanh T đối với bà Nguyễn Thị L.
- · Về con chung: Không có.
- - Về tài sản chung: Không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì giải quyết thành vụ kiện khác.
- - Về nợ chung: Không có.
- - Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004124 ngày 04/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN THỊ HỒNG GẤM |
Bản án số 35/2025/HNST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 35/2025/HNST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN
