Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 – NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn giữa ông K và bà H”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Thái

Ông Nguyễn Văn Chuyết

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - N sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 60/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đỗ Đình K, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Thượng, xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Nay là Thôn Thượng, phường Vị Khê, tỉnh Ninh Bình.

Bị đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Tên gọi khác: Vũ Thị B

Nơi cư trú: Thôn Thượng, xã Nam Điền, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Nay là Thôn Thượng, phường Vị Khê, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2025 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Đỗ Đình K trình bày: Ông và bà Vũ Thị H(tức B) đã đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là phường H, tỉnh Ninh Bình) vào tháng 11 năm 1982. Quá trình chung sống, vợ chồng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do thời gian này ông đi làm ăn xa, bà H nghi ngờ ông vợ nọ con kia, khi ông về nhà vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Do mâu thuẫn mỗi ngày một căng thẳng nên từ tháng 10/2020 cho đến nay, ông và bà H sống ly thân. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng đã thật sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ nên ông đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn bà Vũ Thị H(tức B).

Về con chung: Vợ chồng ông có bốn con chung là Đỗ Thị H1, sinh năm 1986, Đỗ Đình H2, sinh năm 1988, Đỗ Thị H3, sinh năm 1990 và Đỗ Đình S, sinh năm 1994. Hiện các con chung đã trưởng thành và lao động tự lập. Nay ly hôn, ông không yêu cầu giải quyết về con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng ông bà có 175m² đất ở lâu dài nằm tại thửa 5124, tờ bản đồ số 12 tại thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định( nay là phường V, tỉnh Ninh Bình). Mảnh đất này đã được cấp GCNQSDĐ mang tên vợ chồng ông vào ngày 16/10/2007.

Về tài sản trên đất: có 01 căn nhà mái bằng 90m2 ở phía Nam, sân giữa và kế tiếp là 01 nhà mái bằng 60m² ở phía Bắc. Hiện nay ông đang ở nhà mái bằng phía Nam, bà H đang ở nhà mái bằng phía Bắc.

Về ruộng canh tác: Năm 1993, hộ nhà ông được chia 05 nhân khẩu gồm vợ chồng ông, anh H2, chị H1, chị H3 chia ở các vị trí khác nhau, hiện đang canh tác 4,8 sào gồm ruộng Cửa Đình 3,5 sào; ruộng Mạ 0,8 sào; ruộng Thùng Lệ 0,5 sào. Nay ly hôn, ông đề nghị chia tài sản theo pháp luật ông đề nghị được nhận căn nhà phía Nam, bà H căn nhà phía Bắc. Ruộng canh tác của ai người đó cấy.

Ngày 12/9/2025, nguyên đơn ông K làm đơn rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn.

Ngày 12/9/2025, Tòa án đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn số 01/2025/QÐST-HNGĐ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đỗ Đình K vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Vũ Thị H(tức B). Nhưng bà H(tức B) từ chối không nhận, bà không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông K. Tại phiên tòa, bị đơn bà Vũ Thị H(tức B) vắng mặt không rõ lý do.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án

Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa ông Đỗ Đình K và bà Vũ Thị H(tức B). Về án phí: Miễn án phí ly hôn cho ông Đỗ Đình K. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Nguyên đơn ông Đỗ Đình K vắng mặt nhưng có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn bà Vũ Thị H(tức B) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, căn cứ theo khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]Về việc kết hôn: Ông Đỗ Đình K và bà Vũ Thị H(tức B) đã tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Hà Nam Ninh (nay là phường H, tỉnh Ninh Bình) vào tháng 11 năm 1982. Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[3]Về hôn nhân: Trong quá trình chung sống, giữa ông K và bà H nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm và thiếu sự tin tưởng tình cảm của nhau dẫn đến vợ chồng cãi chửi, xúc phạm nhau. Từ tháng 10/2020 cho đến nay, vợ chồng ông K, bà Hải ly T không quan tâm nhau và không cùng nhau tìm biện pháp hàn gắn đoàn tụ. Nay ông K xác định vợ chồng không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn. Tuy nhiên, trong suốt thời gian ly thân cả hai ông bà không có biện pháp hiệu quả nào để đoàn tụ, chứng tỏ cả hai đã bỏ mặc tình trạng hôn nhân. Vì vậy, cuộc hôn nhân giữa ông K1 bà H nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đỗ Đình K và bà Vũ Thị H(tức B) .

[4]Về con chung: Ông bà có là Đỗ Thị H1, sinh năm 1986, Đỗ Đình H2, sinh năm 1988, Đỗ Thị H3, sinh năm 1990 và Đỗ Đình S, sinh năm 1994. Hiện các con chung đã trưởng thành và lao động tự lập. Nay ly hôn, ông không yêu cầu giải quyết về con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5]Về tài sản chung, công nợ chung: Ngày 12/9/2025, nguyên đơn ông K làm đơn rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn, Tòa án đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn số 01/2025/QÐST-HNGĐ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6]Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Đình K phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông K là người cao tuổi nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí cho ông K;

[7]Về quyền kháng cáo: Ông Đỗ Đình K và bà Vũ Thị H(tức B) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa ông Đỗ Đình K và bà Vũ Thị H(tức B).
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông Đỗ Đình K
  3. Về quyền kháng cáo: Ông Đỗ Đình K1 bà Vũ Thị H(tức B) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh: 01 bản;
  • - VKSND KV 9 – Ninh Bình: 02 bản;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - UBND phường V: 01 bản;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giưa ông K và bà H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger