Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK MIL

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-5-2025

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Thế Nam.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh; Bà Hoàng Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Khởi Vinh, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Bà Niê Đoan Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 276/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 (Vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

- Bị đơn: Bà Trương Thị Kim T1, sinh năm 1967 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 26/11/2024 và quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 kết hôn vào ngày 19/4/2005, đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông bà không còn sống chung từ năm 2023 đến nay. Mâu thuẫn giữa ông bà đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài, ông Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu ly hôn bà Trương Thị Kim T1.

- Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 có 01 con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2005, đã trên 18 tuổi, có đủ sức khỏe tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Trương Thị Kim T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 kết hôn vào ngày 19/4/2005, đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên ông bà không còn sống chung từ năm 2023 đến nay. Do bà Trương Thị Kim T1 theo đạo công giáo nên không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 có 01 con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2005, đã trên 18 tuổi, có đủ sức khỏe tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trương Thị Kim T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Người tham gia tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án; tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; người tham gia tố tụng ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, ông Nguyễn Văn T được ly hôn bà Trương Thị Kim T1. Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 có 01 con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2005, đã trên 18 tuổi, có đủ sức khỏe tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, xác định không có nợ chung nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn bà Trương Thị Kim T1, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn bà Trương Thị Kim T1 có nơi cư trú tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyên Đắk Mil theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà Trương Thị Kim T1 vắng mặt lần thứ hai không lý do. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà Trương Thị Kim T1 vẫn không có mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 kết hôn ngày 19/4/2005, đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, việc kết hôn của anh chị trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn T, sau khi kết hôn vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng ông bà đã không còn sống chung từ năm 2023 đến nay. Quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương từ cả hai phía vợ, chồng; dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau. Ông Nguyễn Văn T không còn tình cảm với bà Trương Thị Kim T1, vì vậy không đảm bảo được việc quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, chia sẻ với nhau những công việc gia đình. Hiện nay quan hệ hôn nhân không có khả năng hàn gắn, tình cảm yêu thương dành cho nhau không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà Trương Thị Kim T1 thừa nhận ông bà có nhiều mâu thuẫn, tuy nhiên do bà theo đạo công giáo nên không đồng ý ly hôn.

Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Tại điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Như vậy, xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T và quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil đối với nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật, cần chấp nhận.

[3] Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 không có 01 con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2005, đã trên 18 tuổi, có đủ sức khỏe tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0006166 ngày 03/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 19; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T được ly hôn bà Trương Thị Kim T1.
  2. Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 có 01 con chung là Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2005, đã trên 18 tuổi, có đủ sức khỏe tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Kim T1 không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
  4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0006166 ngày 03/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Mil;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Mil;
  • - UBND xã Thuận An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vi Thế Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T ly hôn Trương Thị Kim T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger