Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

Bản án số: 35/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 28/11/2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Anh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Hân và bà Nguyễn Thị Hiền Lương
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2025/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 14/11/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1992. Hộ khẩu thường trú: Xóm D, xã X, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Xóm V, xã X, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm D, xã X, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày như sau:

  • - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B kết hôn với anh Trần Văn T vào ngày 09/03/2015 trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, nay là xã X, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, chồng có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Hiện nay chị Nguyễn Thị B nhận thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa, chị B có nguyện vọng xin được ly hôn anh Trần Văn T.
  • - Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Trần Bảo C, sinh ngày 08/4/2016 và cháu Trần Bảo N, sinh ngày 12/02/2018. Hiện tại hai con đang ở cùng chị Nguyễn Thị B từ nhỏ cho đến nay và do chị B trực tiếp chăm sóc. Nếu vợ chồng ly hôn thì chị Nguyễn Thị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị B không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của bị đơn anh Trần Văn T:

  • - Về hôn nhân: Thời gian và điều kiện kết hôn thì anh Trần Văn T nhất trí như chị Nguyễn Thị B trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng hạnh phúc đến khoảng tháng 7 năm 2025 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, không còn tin tưởng lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2025 cho đến nay. Nay anh Trần Văn T nhận thấy tình cảm vợ chồng là đang còn, anh T mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Anh Trần Văn T không đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị B.
  • - Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Trần Bảo C, sinh ngày 08/4/2016 và cháu Trần Bảo N, sinh ngày 12/02/2018. Hiện nay các con sinh hoạt, học tập với chị Nguyễn Thị B từ nhỏ cho đến nay. Nếu vợ chồng ly hôn thì anh Trần Văn T có nguyện vọng giao cả hai con chung cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Văn T xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về chia tài sản chung và nợ chung: Anh Trần Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

3

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử.

  • Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Trần Văn T.
  • Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Bảo C, sinh ngày 08/4/2016 và cháu Trần Bảo N, sinh ngày 12/02/2018 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Văn T do chị Nguyễn Thị B không yêu cầu.
  • Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. [1] Về tố tụng: Mặc dù tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt; bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị B và anh Trần Văn T là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 7 năm 2025 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau. Chị Nguyễn Thị B xin ly hôn thì anh Trần Văn T mong muốn vợ đoàn tụ, anh T không đồng ý ly hôn với chị B.

    Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị B và anh Trần Văn T chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B, xử cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T là đúng với quy định của pháp luật.

  3. [3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Trần Bảo C, sinh ngày 08/4/2016 và cháu Trần Bảo N, sinh ngày 12/02/2018. Quá trình giải quyết vụ án thì chị Nguyễn Thị B và anh Trần Văn T đều có nguyện vọng giao cả hai con chung cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy các con đang ở, sinh hoạt ổn định với chị Nguyễn Thị B từ nhỏ cho đến nay, để đảm bảo tâm sinh lý cũng như sự phát triển của các con, vì vậy cần giao cháu Trần Bảo C và cháu Trần Bảo N cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với

4

nguyện vọng của các con, phù hợp với nguyện vọng của hai vợ chồng và đúng với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình.

  1. [4] Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Trần Văn T không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. [5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  3. [6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

  • Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Trần Văn T.
  • Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Bảo C, sinh ngày 08/4/2016 và cháu Trần Bảo N, sinh ngày 12/02/2018 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Trần Văn T do chị Nguyễn Thị B không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

5

  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0000930, ngày 07/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  • Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKS Khu vực 5 – Nghệ An;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Xuân Lâm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Ngọc Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ - ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger