|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2025
V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Anh Đào
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Quốc Trung
2. Ông Trần Ngọc Thái
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đức Định – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Yên Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Ông Lương Huy Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2025/TLST – HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên toà số: 25/TB-TA ngày 11 tháng 6 năm 2025; giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Chu Thanh T, sinh năm 1991. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993. Vắng mặt.
- Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Chu Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T1 kết hôn trên cơ sơ tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 14 tháng 02 năm 2020. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 8 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do chị T1 không chung thuỷ, có quan hệ tình cảm với người khác nên dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung hay cãi vã lẫn nhau. Anh đã khuyên bảo chị T1 nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị T1 đã bỏ nhà đi từ tháng 8/2024 cho đến nay, vợ chồng hiện nay đã sống ly thân nhau từ thời gian đó đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Toà án giải quyết cho anh ly hôn với chị Nguyễn Thị T1.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị T1 có 02 con chung là Chu Ngọc M, sinh ngày 21-10-2020 và Chu Khánh N, sinh ngày 28-02-2022. Từ tháng 8/2024 chị T1 bỏ nhà đi thì hai con vẫn ở với anh, do anh trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục có sự hỗ trợ giúp đỡ của bố mẹ đẻ anh. Hiện nay anh và các con ở cùng với bố mẹ đẻ anh, bố mẹ anh có nhà đất riêng, tạo mọi điều kiện về vật chất hỗ trợ anh chăm sóc các cháu. Hiện nay cháu M đang học lớp mẫu giáo 4 tuổi, cháu N học lớp mẫu giáo 3 tuổi tại trường mầm non xã T. Ly hôn, anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cả hai con đến khi trưởng thành, không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Từ khi chị T1 bỏ đi chị T1 không cấp dưỡng gì để nuôi con, không quan tâm gì đến các con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Chu Thanh T kết hôn trên cơ sơ tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 14 tháng 12 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng đi làm thuê và chung sống với nhau tại Hoà Bình (thuê nhà ở), đến đầu năm 2022 vợ chồng chị lại chuyển về nhà mẹ đẻ chị ở thôn Đ, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang ở. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc thường xuyên phát siinh mâu thuẫn, thậm chí anh T còn đánh đập chị. Tháng 4/2024, vợ chồng chị thống nhất với nhau chuyển về xã T, huyện Y xây nhà ở, tuy nhiên thời điểm đó chị vẫn làm công nhân ở công ty đóng tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Tháng 8/2024, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị không về xã T, huyện Y ở với anh T nữa. Từ đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn. Anh Chu Thanh T xin ly hôn, chị nhất trí.
Về con chung: Chị và anh Chu Thanh T có 02 con chung là Chu Ngọc M, sinh ngày 21-10-2020 và Chu Khánh N, sinh ngày 28-02-2022. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cháu bé là Chu Khánh N; giao cháu lớn là Chu Ngọc M cho anh Thường trực T2 nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cho đến khi trưởng thành, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Từ tháng 4 năm 2024, anh T và các con về xã T ở cho đến hiện nay thì các con vẫn do anh Thường trực T2 nuôi dưỡng chăm sóc, thời gian đầu khi các con về xã T thì chị vẫn gửi tiền về cho anh T nuôi con, sau đó đến tháng 8/2024 cho đến nay chị không gửi tiền về cho anh T nuôi con nữa.
Hiện nay cháu Chu Ngọc M đang học lớp mẫu giáo 4 tuổi và cháu Chu Khánh N đang học lớp mẫu giáo 2 tuổi trường mầm non xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Từ tháng 11/2024 đến nay chị không về thăm các con nữa vì anh T không cho chị thăm.
Hiện nay chị đang nuôi 01 con riêng của chị với chồng cũ (cháu hiện nay đang học lớp 5), chị đang làm công nhân của công ty C đóng tại khu công nghiệp B, xã B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Công việc làm theo ca từ 08 giờ sáng đến 20 giờ/hàng ngày, một tháng được nghỉ thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ. Chị đang thuê nhà trọ gần công ty ở huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để ở và làm việc. Công việc chị bắt đầu làm từ tháng 12/2024 cho đến nay rất ổn định, thu nhập bình quân là từ 9 – 14 triệu/tháng. Nếu được nuôi con chị sẽ chuyển cháu về ở cùng bố mẹ đẻ tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hoà giải để hoà giải toàn bộ các nội dung về quan hệ hôn nhân và nuôi con chung nhưng chị T1 không có mặt nên Toà án không tiến hành hoà giải được.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 7 Điều 26; Điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chu Thanh T để xử cho anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị T1. Về nuôi con chung: Chấp nhận đề nghị về nuôi con chung của anh Chu Thanh T. Giao con chung là Chu Ngọc M, sinh ngày 21-10-2020 và Chu Khánh N, sinh ngày 28-02-2022 cho anh Chu Thanh Thường trực T2 nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Anh Chu Thanh T và chị Nguyễn Thị T1 phải chịu tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình.
Nguyên đơn anh Chu Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Bình xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Chu Thanh T và chị Nguyễn Thị T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái ngày 14 tháng 12 năm 2020. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, cả anh T và chị T1 đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hoà hợp, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 8/2024 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa và đều thống nhất ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, chị T1 không có mặt để hoà giải thể hiện chị T1 không có thiện chí hoà giải. Do đó yêu cầu xin ly hôn của anh T là có căn cứ, cần được chấp nhận. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để xử cho anh Chu Thanh T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1
[3] Về con chung: Anh T và chị T1 có 02 con chung là Chu Ngọc M, sinh ngày 21-10-2020 và Chu Khánh N, sinh ngày 28-02-2022. Ly hôn, anh T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con đến khi trưởng thành, không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Chu Khánh N; giao cháu Chu Ngọc M cho anh Thường trực T2 nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét đề nghị của anh T, chị T1 về nuôi con thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, anh T đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu nuôi con của mình thể hiện anh T3 có việc làm, thu nhập và chỗ ở ổn định để nuôi con. Chị T1 chỉ cung cấp được bản phô tô về thu nhập lương 03 tháng (tháng 01, tháng 02 và tháng 03 năm 2025), ngoài ra không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu nuôi con của mình. Cả anh T và chị T1 đều xác nhận từ tháng 8/2024 cho đến nay khi anh T và chị T1 sống ly thân nhau thì các con vẫn ở với anh T tại xã T, do anh Thường trực T2 nuôi dưỡng, chị T1 không cấp dưỡng nuôi con; anh T vẫn đảm bảo các điều kiện cho các con ăn học. Cả hai cháu hiện đều học tập ổn định tại xã T. Vì vậy, để đảm bảo về mọi mặt sinh hoạt và học tập và tâm sinh lý của các con cần giao hai con cho anh Chu Thanh Thường trực T2 nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tại phiên tòa về quan hệ hôn nhân và nuôi con chung là phù hợp, có căn cứ theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Chu Thanh T và chị Nguyễn Thị T1 thuận tình ly hôn nên mỗi bên phải chịu 25% mức án phí không có giá ngạch.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Chu Thanh T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.
- Về con chung: Giao con chung là Chu Ngọc M, sinh ngày 21-10-2020 và Chu Khánh N, sinh ngày 28-02-2022 cho anh Chu Thanh Thường trực T2 nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về án phí:
- - Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm;
- - Anh Chu Thanh T phải chịu 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai số AA/2024/0000430 ngày 31/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình. Anh Chu Thanh T được trả lại 225.000₫ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Anh Chu Thanh T và chị Nguyễn Thị T1 được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Anh Đào |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
